Saturday, April 27, 2013

Xã hội dân sự trong các chế độ cộng sản đang đổi mới: Logic xuất hiện ( BÀI 2)



Marcia A. Weigle, Jim Butterfield
Lâm Yến dịch


Khủng hoảng có hệ thống: I

Các giá trị và vận động xã hội tự chủ, và vì thế các hạt giống của xã hội dân sự, hình thành trong các chế độ hậu toàn trị là kết quả của một cuộc khủng hoảng có hệ thống. Cuộc khủng hoảng này có cội rễ từ chỗ các chế độ đã không thể đạt được thành công tối thiểu trong việc thực hành các chức năng tự định của mình về thiết lập giá trị và đại diện lợi ích. Trong trường hợp đầu, nỗ lực không thành công của nhà nước trong việc áp đặt gói giá trị lên dân chúng có thể được coi là thất bại về văn hóa hóa (enculturation). Touraine đã ghi nhận điểm này trong trường hợp của Ba Lan. "Ba Lan luôn có 2 mặt: một đất nước thực sự chưa bao giờ bị che đậy hoàn toàn bởi cái chính thức, một đời sống trí thức chưa bao giờ bị suy giảm [đến mức] chỉ còn lại chỉ còn ý thức hệ thống trị, và sự áp đặt của nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa (bất kể nhà nước đã sử dụng các áp lực táo bạo thế nào để áp đặt lên dân tộc, thì nó vẫn chỉ là một hồi kịch đen tối ngắn). [1]
Rõ ràng là các giá trị do đảng-nhà nước truyền bá không được quần chúng chấp nhận và hấp thu. [2] Cũng giống như nỗ lực của Liên Xô trong việc xây dựng một lớp người "thuộc chủng soviet", nỗ lực của các chế độ này trong việc viết lại hệ thống giá trị xã hội bằng cách sử dụng quyền lực chính trị để áp đặt một hệ thống giá trị mới đã thất bại. Báo chí và các ấn bản chính thức được viết bằng một thứ ngôn ngữ, trong khi các tranh luận trong xã hội lại được thực hiện bằng một thứ ngôn ngữ hoàn toàn khác. [3] Một [trong những] giá trị cụ thể không đi vào công chúng được là chủ nghĩa quốc tế cộng sản chủ nghĩa do Soviet thống trị. Bằng chứng của thất bại này là việc mỗi nước trong khối Soviet chọn các con đường tới chủ nghĩa xã hội khác nhau sau cái chết của Stalin, và ảnh hưởng của giới trí thức dân tộc chủ nghĩa Nga lên các chính sách Cộng sản của USSR. [4]

Trong thập kỷ 60 và 70, các chế độ Cộng sản ít tập trung hơn vào tuyên truyền các giá trị xã hội chủ nghĩa. Thay vào đó, trong khuôn khổ thể chế của mình, họ tập trung củng cố tập hợp lợi ích đang ngày càng trở nên phức tạp của xã hội. Đã thất bại trong việc thay đổi hình ảnh của mình trong xã hội, các chế độ hậu toàn trị tìm cách xây dựng các nhóm ủng hộ, đặc biệt là trong số các nhà quản trị, giới trí thức, và quan trọng nhất là, giới công nhân lao động. Với việc khẳng định [rằng mình] đại diện cho các lợi ích của một xã hội đang hiện đại hóa với tốc độ ngày càng nhanh chóng, đảng Cộng sản đã tài trợ cho các tổ chức, nhằm gộp các nhóm ủng hộ này vào trong các ranh giới tổ chức của chế độ. Khi các nỗ lực định hướng sự tham dự của xã hội đã tỏ ra thất bại, sự bất tương thích giữa đảng-nhà nước với các lợi ích của xã hội đã dẫn tới các biểu hiện bất mãn công khai.

Việc chế độ kiên quyết khẳng định vai trò độc tôn trong việc đại diện cho các lợi ích và kiểm soát các kênh tham dự - trong khi khoảng cách giữa các giá trị và lợi ích của tư nhân và công cộng ngày càng mở rộng - đã dẫn đến các kêu gọi "tự vệ" cho xã hội. Đến thời điểm này, việc bác bỏ độc quyền của đảng về cả các phần hữu hình (tổ chức xã hội) lẫn vô hình (đạo đức và văn hóa) của hệ thống xã hội đã được bộc lộ rõ nét. Các hình thức tự vệ cho quyền tự chủ của cá nhân và xã hội có nhiều nét khác nhau giữa các nước, phụ thuộc vào các quan hệ thể chế và khuynh hướng văn hóa.

Trường hợp Trung Âu:

Các cấu trúc tự vệ chính thức ở Ba Lan có một lịch sử lâu dài: nhà thờ, các tổ chức xã hội ngầm, các nhóm công nhân tích cực. Trong khi phần lớn xã hội vẫn thờ ơ với các quá trình chính trị chính thức, [5] sự tồn tại của các thể chế và các nhóm xã hội độc lập tương đối chính là cái nhắc nhở rằng khẳng định độc tôn của đảng-nhà nước (về đại diện cho các lợi ích của xã hội) cùng lắm chỉ là sự khẳng định hời hợt. Nhà nước Ba Lan khoan dung cho nhiều mức độ tự chủ trong giai đoạn tự vệ [của xã hội dân sự] nhằm giữ ổn định và dung hợp. Chỉ khi chế độ buộc phải chấp thuận cho nới rộng không gian công dành cho các hoạt động công cộng trong giai đoạn cuối thập kỷ 1970, thì các diễn đàn công này mới cung cấp các phương tiện đã thiết kế sẵn cho công chúng nhằm làm suy yếu khả năng kiểm soát và tính chính đáng của đảng.

Ở Hungary và Czechoslovakia (những quốc gia phải trả giá bằng sự can thiệp của Soviet vì đã dung dưỡng các hoạt động độc lập của xã hội trong những năm 1956 và 1968), kêu gọi của giới trí thức nhằm bảo vệ các giá trị xã hội độc lập đã được hướng một cách có tính toán tới bộ phận công chúng chán ghét nhà nước ở mức độ cơ sở hơn. Vì thế, Vaclav Havel nhắc nhở các công dân Czechoslovakia rằng các hành vi công cộng nhìn bề ngoài có vẻ vô hại được thiết kế ra nhằm thỏa mãn các đòi hỏi của chế độ sẽ dẫn tới sự thoái hóa đạo đức nếu trên thực tế các giá trị của chế độ không được thực tâm công nhận. "Sống với sự thực" - hay rõ hơn là sự nhất quán giữa các giá trị cá nhân và hành vi công cộng, ngay cả khi bị chế độ trả thù - đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong công cuộc tự vệ trước sự thống trị của nhà nước-đảng. [6] Ở Đông Đức, một nhóm những người theo chủ nghĩa hòa bình cho rằng độc lập cá nhân không phải là một vấn đề đạo đức, mà là một trách nhiệm công dân. [7] Chính trong giai đoạn này, những năm của thập kỷ 1960 và 1970, khái niệm "thành bang song song" bắt đầu xuất hiện trong văn học Đông Âu. [8] Trong một số trường hợp, "thành bang song song" diễn tả sự độc lập đạo đức của công dân trước các nỗ lực xóa bỏ không gian công của các chế độ hậu toàn trị, hoặc bằng cách làm nản lòng các sáng kiến dân sự, hoặc bằng cách thiết lập và tài trợ cho các tổ chức với mục đích thu hút sự tham dự của xã hội. Thành bang song song được cư ngụ bởi các công dân không hấp thụ các giá trị của chế độ.

Nhiều khi sự tự vệ của xã hội lại diễn ra dưới hình thức tổ chức. Ðó là khi các nhà hoạt động xã hội tạo ra các nhóm độc lập, nhằm thúc ép nhà nước thực hiện các cam kết mà nó đã hứa hẹn với các nhóm xã hội hay xã hội nói chung. Các nhóm xuất hiện trong những năm 1970 như Ủy ban Bảo vệ Công nhân (KOR) và Phong trào Bảo vệ các Quyền Dân sự và Con người (ROPCiO) ở Ba Lan, và Ủy ban Bảo vệ Người bị Ngược đãi (VONs) và Hiến chương 77 ở Czechoslovakia. KOR được thành lập với mục đích giúp đỡ công nhân và gia đình họ trước phản ứng tàn bạo của chế độ chống lại những người tham gia bãi công. ROPCiO và Hiến chương 77 là các nhóm do trí thức thiết lập, nhằm buộc chế độ phải có trách nhiệm thực hiện các cam kết về bảo vệ các quyền dân sự và con người, đưa vào hợp pháp ở các nước này, và với tư cách là những bên tham gia ký kết hiệp định Helsinki. Khuynh hướng viện đến hình thức tổ chức trong hoạt động tự vệ xã hội phụ thuộc vào mức độ đồng cảm với chế độ, [9] mức độ thỏa mãn về kinh tế, sự độc lập của giới trí thức và tính quen thuộc của xã hội với hoạt động tổ chức. Vì thế, các nhóm hoạt động mạnh nhất đã xuất hiện ở Ba Lan. Hungary là nơi các cá nhân tin vào giới lãnh đạo nhiều hơn, mức sống cũng cao hơn, và sự chia rẽ giữa trí thức trong và ngoài đảng không sâu sắc như ở Ba Lan và Czechoslovakia, do vậy, kêu gọi tự vệ cũng bị giới hạn hơn. [10]

Trong những năm 1970, các thảo luận về "thành bang song song" tập trung vào sự độc lập đạo đức (với tư cách là cái thay thế cho sự độc tôn của chế độ trong các giá trị xã hội chính thức và việc đại diện cho các lợi ích) hơn là các kênh thể chế cho sự tham dự. Không ai đặt ra vấn đề thay thế sự lãnh đạo của đảng, thậm chí không ai đặt ra chuyện phải chấp nhận các phương pháp đại diện lợi ích mới. Các nhóm độc lập giới hạn hoạt động của mình trong việc, hoặc là giúp đỡ các nhóm xã hội khi bị nhà nước đàn áp (KOR), hoặc đòi nhà nước thực thi các trách nhiệm xã hội mà nó đã tuyên bố (Hiến chương 77 và ROPCiO). Nhà nước không thừa nhận quyền được công bố các yêu sách của các nhóm này, mặc dù trong một số trường hợp, các nhóm này được cho phép tồn tại nếu có lượng thành viên hạn chế và các mục tiêu đủ hạn hẹp (tức là không đặt vấn đề nghi vấn về tính chính đáng của chế độ). [11]

Trường hợp Liên Xô: Bảo vệ Tính Độc lập

Dấu hiệu về một xã hội dân sự tự vệ ở Liên Xô xuất hiện không muộn hơn những dấu hiệu ở Trung Âu, thông qua bất đồng và các cố gắng bảo vệ sự độc lập về pháp lý và đạo đức, trước thâm nhập mạnh mẽ của nhà nước vào mọi dạng của đời sống xã hội. Các điều kiện bắt đầu cho một xã hội dân sự tiềm tàng đã được thiết lập, giống như ở Trung Âu, từ sự khủng hoảng có hệ thống. Đảng-nhà nước không thể loại trừ hoàn toàn hoặc kiểm soát mọi hình thức độc lập của xã hội, phần lớn vì nó đã bị chứng tỏ không hiệu quả trong việc khẳng định vai trò đại diện phổ quát. [12] Các nhóm độc lập xuất hiện hoặc để phản ứng lại các lợi ích bị nhà nước phớt lờ (trong trường hợp Liên Xô, phần lớn là vấn đề truyền bá thông tin), hoặc hối thúc nhà nước có trách nhiệm với các chính sách của nó. Hoạt động tự vệ trước sự thống trị của nhà nước được thực hiện dưới hình thức các phong trào bất đồng.

Mặc dù các nhà bất đồng chính kiến chia rẽ sâu sắc với nhau trong quan điểm về các mục tiêu của công cuộc đổi mới nhà nước Liên Xô, [13] họ đều đồng ý trên một điểm: nhà nước chẳng có quyền pháp lý và đạo đức nào để tước đoạt quyền [tổ chức/tham gia] các hoạt động độc lập và tự chủ của các cá nhân cũng như các nhóm. Trong khi đại bộ phận trí thức tiến bộ phấn khởi trước triển vọng những cuộc cải cách của Khrushchev hướng tới nới lỏng sự kiểm soát của nhà nước đối với các hoạt động xã hội (trong những năm cuối thập kỷ 1950), rất nhanh sau đó người ta nhận ra rằng việc phi tập trung hóa của nhà nước, và việc giải phóng các hoạt động xã hội, sẽ đe dọa chính cái cốt lõi nhất của sự thống trị của đảng (và vì thế, các đặc quyền đặc lợi chính thức). Đến đầu những năm 1960, bất cứ hình thức hợp tác dài hạn nào giữa đảng-nhà nước và khu vực cải cách của xã hội Liên Xô đều đã trở nên bất khả thi. [14]

Trong điều kiện bị đàn áp giữa những năm 1960, các nhà cải cách hoặc chọn cách sử dụng các cấu trúc bày tỏ quan điểm và tham dự một cách hạn chế mà nhà nước cho phép, hoặc chọn cách chuyển sang hoạt động ngầm. Những người chuyển sang hoạt động ngầm xác định mục tiêu của họ là chống lại sự thống trị của nhà nước bằng cách bảo vệ sự tự chủ về đạo đức của cá nhân và xã hội. Ví dụ vào năm 1973, một thành viên của nhóm bất đồng chính kiến nhỏ có tên là Phong trào Dân chủ, ông Dmitrii Nelidov, đã mô tả các mục tiêu của nhóm này là "bày tỏ tính nhân văn trong một môi trường mà bản chất người đã bị xuyên tạc và đàn áp... [Phong trào này] mong muốn chuyển thành phong trào đấu tranh cho con người, cho các giá trị nhân cách người. Nó nỗ lực tự tách mình ra khỏi hệ thống cơ chế nhồi sọ ý thức hệ qua con đường vô thức." [15] Để phục vụ quá trình này, và để bù đắp lại việc nhà nước không nhìn nhận các nhu cầu chính đáng của xã hội, Phong trào Dân chủ đã xuất bản bản tin ngầm, Bản tin Sự kiện Thời sự (xuất hiện lần đầu vào tháng 4 năm 1968). [16]

Mặc dù một số thành viên của nhóm này cổ súy cho các cải cách kinh tế tận gốc rễ (tài sản tư nhân), cho tự do dân sự (tự do phát biểu ý kiến và tự do báo chí), và cho việc thừa nhận các nhu cầu dựa trên chủ nghĩa dân tộc (tự quyết), Phong trào Dân chủ nói chung lại thừa nhận đặc quyền của đảng-nhà nước trong việc thực thi các thay đổi, và vì thế bắt đầu họ đã hướng các nỗ lực của mình vào việc thuyết phục đảng-nhà nước tự đổi mới. [17] Trong nỗ lực này, Phong trào Dân chủ chỉ là một ví dụ về các hoạt động bất đồng chính kiến xuất hiện ngày càng nhiều -mặc dù vẫn còn rời rạc- trong những năm cuối thập kỷ 1960 và đầu thập kỷ 1970. Mục đích của các hoạt động bất đồng chính kiến này là đòi nhà nước phải chịu trách nhiệm với các tiêu chuẩn pháp lý của chính họ. Một số người trong giới trí thức tư cách bảo vệ quyền tự quyết trong các hoạt động của họ bằng cách thách thức chế độ tôn trọng các tiêu chuẩn chính nó đặt ra về "tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa". Chiến lược này được thiết kế với mục đích gây áp lực lên nhà nước, nhằm buộc nó phải tôn trọng các quy tắc pháp lý chính thức. Các nhà vận động cho chiến lược này hoạt động như thể các lãnh đạo đảng và nhà nước bị ràng buộc bởi luật pháp -mặc dù mọi người đều hiểu rằng thực ra không phải như vậy. [18] Thực ra, vì các lãnh đạo đảng và nhà nước không bị ràng buộc bởi các tiêu chuẩn pháp lý chính thức, những người sử dụng tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa để tự vệ không thể trông cậy vào các yêu sách của mình [sẽ được giới lãnh đạo đáp ứng]. Tuy nhiên, các nhóm độc lập với cấu trúc chặt chẽ đã được hình thành, nhằm buộc nhà nước phải công khai chịu trách nhiệm trước các cam kết mà nó thừa nhận chính thức trên các diễn đàn trong nước và quốc tế. Các ví dụ bao gồm Nhóm Quan sát Helsinki, Ủy ban vì các Quyền Con người, Quỹ Xã hội Nga Ủng hộ các Tù nhân Chính trị và Gia đình họ, và Nhóm Làm việc để Bảo vệ các Quyền Lao động, Kinh tế và Xã hội. [19]

Khi các chính quyền tăng đàn áp lên các nhóm bất đồng chính kiến trong những năm 1970, một số lượng lớn thành viên của họ bị bỏ tù, đuổi khỏi nơi cư trú hoặc ép phải lưu vong. Bị mất tinh thần, một số trong các nhà vận động còn lại quay sang cổ súy cho việc giải tán các nhóm hoạt động vì các nhóm này đã không hiệu quả trong việc khuyến khích và khởi xướng đổi mới. Tuy nhiên, những cá nhân nòng cốt lập luận rằng thay đổi chính sách bản thân nó không phải là mục tiêu chính, và nhấn mạnh nhu cầu tự vệ xã hội trước sự can thiệp của nhà nước, ít nhất trên lĩnh vực đạo đức -nếu không phải là trên lĩnh vực lập chính sách. Ví dụ Nelidov đã nhấn mạnh rằng sự thất bại ngày càng rõ của Phong trào Dân chủ trong việc thúc đẩy cải cách kinh tế, chính trị và xã hội không thể [là bằng chứng] bác bỏ ảnh hưởng của nhóm này tới "cuộc đấu tranh vì sự tự do tinh thần". Chính sự tập trung vào quyền tự chủ đạo đức, sự thừa nhận các giá trị độc lập và các hiệp hội tự do trước sự thống trị của nhà nước đã khiến chúng tôi [muốn] so sánh quá trình tự vệ của xã hội dân sự ở Liên Xô và Trung Âu.

Tuy nhiên, bất đồng chính kiến nở rộ không giải thích thỏa đáng nền tảng cho sự phát triển của xã hội dân sự, đặc biệt là trường hợp Liên Xô. Trong khi ở Trung Âu, đại bộ phận dân cư trốn chạy khỏi đời sống công cộng, thái độ thỏa mãn đa phần là kết quả từ việc không thể thay đổi một cách hiệu quả chế độ được Moscow hậu thuẫn. Có một số các giá trị cùng được mọi người chia sẻ, bao gồm sự phẫn nộ bắt nguồn từ chủ nghĩa dân tộc trước các chế độ bị Liên Xô thống trị, giữa các nhà bất đồng hoạt động tích cực với đám đông công dân thụ động -cái sẽ trở thành nền tảng cho các hoạt động đối lập có tổ chức trong các giai đoạn sau. Ở USSR, tình cảm chống chế độ không được đông đảo người chia sẻ như vậy. Sự phát triển bản địa của chủ nghĩa Mác-Lê nin, sự gặp gỡ giữa lợi ích của Liên Xô và lợi ích của dân tộc Nga, và các thành tựu đạt được dưới thời Stalin (công nghiệp hóa và vị trí siêu cường) đã khiến chế độ Cộng sản Liên Xô có được tính chính đáng [với dân chúng Liên Xô] nhiều hơn các đảng anh em của nó ở Trung Âu. [20] Ðiều này, đi kèm với việc thiếu vắng một truyền thống đối lập công khai, khiến cho việc khoảng cách giữa các nhà bất đồng chính kiến hoạt động tích cực với quần chúng nói chung ở USSR lớn hơn nhiều so với ở Trung Âu.

Chất chỉ định cho kết luận này chính là sự thực rằng phong trào bất đồng chính kiến đã thu nạp được một bộ phận dân cư rất hạn chế ở Liên Xô. Thực ra, hầu hết các công dân đã không đồng cảm với những giá trị của nó. [21] Không những nó không thể lấp đầy khoảng cách xã hội trên các mặt [thu hút] thành viên và cảm tình viên, [22] mà còn có vẻ như không có một sự chia sẻ nào về giá trị giữa các thành viên trí thức của phong trào bất đồng chính kiến và quần chúng nói chung. [23] Với khoảng cách này, sẽ là cẩu thả nếu chúng ta cho rằng phong trào bất đồng chính kiến là nguồn gốc duy nhất của một xã hội dân sự đang được thai nghén ở Liên Xô. Làm thế nào để lấp đầy khoảng cách giữa số lượng nhỏ các nhà bất đồng chính kiến với đám đông các nhà hoạt động xã hội (những người sẽ hình thành nên nền tảng cho một xã hội dân sự)? Câu trả lời được tìm thấy trong các hình thức tham dự được hình thành dưới thời Brezhnev.

Từ cách mạng 1917, các lãnh đạo Soviet đã tìm cách lái sự tham dự của xã hội qua các tổ chức do đảng thống trị và tài trợ. Đa phần những người quan sát hiện tượng "tham dự [do bị] động viên" này đều đồng ý rằng nó phục vụ cho mục đích nêu cao tính chính đáng của chế độ, sự một xác nhận mang tính lễ nghi về vai trò lãnh đạo và quyền kiểm soát mọi hoạt động xã hội của đảng. Người ta không đồng ý nhiều với nhau về vấn đề hiệu quả của chiến lược này, cả từ giác độ nhà nước lẫn góc độ của các công dân tích cực. Dù thế nào, mọi thứ cũng trở nên rõ ràng, rằng các tổ chức này (các soviet đa phương, các tổ chức nghề nghiệp, các nhóm thanh niên) đã không phản ứng được với những lợi ích đang thay đổi của một xã hội Soviet đang được hiện đại hóa. Các học giả Soviet mô tả các hình thức tham dự này là đã trở nên lố bịch, quan liêu quá đáng, và bị hướng quá nhiều vào việc duy trì các lợi ích quan liêu và tha hóa, hơn là phản ứng với các nhu cầu mà xã hội tự bày tỏ. [24] Khi các kênh tham dự do đảng tài trợ càng trở nên vô hiệu bao nhiêu, thì các nhà hoạt động xã hội càng hướng tới các hình thức hiệp hội và tự tổ chức không chính thức.

Trong những năm 1970, các học giả Soviet ghi nhận sự xuất hiện của các lợi ích xã hội khác với những lợi ích do Đảng Cộng sản đại diện, và [sự xuất hiện này] bắt đầu làm xói mòn dần tính vững chắc của các quá trình xã hội hóa do đảng tài trợ. Thanh niên xa lánh các tổ chức thanh niên chính thức, và lập/tham gia vào các hiệp hội không chính thức, [25] cuộc "cách mạng khoa học kĩ thuật" nuôi dưỡng các lợi ích của công nhân tay nghề cao và các nhóm quản lý, vốn không được đại diện một cách thỏa đáng bởi các tổ chức kinh tế và thương mại chính thức [26] , và một bộ phận ngày càng đông các cư dân có học và được đô thị hóa, đã quay về với các quan hệ/hiệp hội phi chính thức, nhằm thỏa mãn các quyết tâm cá nhân và nghề nghiệp. [27] Nghiên cứu thực nghiệm do các học giả phương Tây thực hiện khẳng định rằng có một bộ phận đáng kể trong công chúng Liên Xô đã quay lưng lại với các kênh phát biểu lợi ích và tham dự chính thức để tham gia vào những dạng hoạt động "không chính thức", không được tài trợ, thậm chí bất hợp pháp. [28] Sự bảo vệ tính tự chủ một cách tích cực từ phía các nhà bất đồng chính kiến trong những năm 1960 và 1970 trùng hợp với sự tự vệ ít tính đối kháng hơn bằng cuộc dịch chuyển các lợi ích nghề nghiệp và cá nhân từ phía công chúng. Trong khi cái thứ hai không tìm cách đối lập với hệ thống hoặc chế độ, sự kết hợp giữa hai yếu tố này đã tạo thành lực lượng nhà hoạt động xã hội sẵn sàng phản ứng lại với thách thức của Gorbachev về tăng cường hoạt động xã hội vào giữa những năm 1980.

Nền tảng của xã hội dân sự, vì thế, đã được hình thành qua hoạt động độc lập ngoài các kênh chính thức của cấu trúc chính trị và xã hội. Việc bảo vệ tính tự chủ, phong trào hướng tới các lợi ích tự xác định, và tự tổ chức, được duy trì hoặc chủ động bởi các nhà bất đồng chính kiến, hoặc thụ động bởi các cá nhân chỉ muốn có một cuộc sống tốt hơn nằm trong hệ thống, đã tạo nên giai đoạn "tự vệ" trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở USSR.

[1]Alain Touraine, Solidarity: The Analysis of a Social Movement, Poland 1980-1981 (Cambridge: Cambridge University Press, 1983), p. 15.
[2]Xem Kasimierz Wojcicki, "The Reconstruction of Society," Telos, 47 (1981), 102-103, and Vaclav Benda, et al., "Parallel Polis or an Independent Society in Central and Eastern Europe: An Inquiry," Social Research, 55 (Spring-Summer 1988), 211-246; Ivan Volges, "Political Socialization in Eastern Europe," Problems of Communism, 23 (January-February 1974), 55.
[3]Xem Stephen White, "Propagating Communist Values in the USSR," Problems of Communism, 34 (November-December 1985), 1-17; Vladimir Shlapentokh, Public and Private Life of the Soviet People: Changing Values in Post-Stalin Russia (New York: Oxford University Press, 1989).
[4]Alexander Yanov, The Russian Challenge and the Year 2000 (Oxford: Basil Blackwell, 1987).
[5]David Mason, Public Opinion and Political Change in Poland, 1980-1982 (Cambridge: Cambridge University Press, 1985), p.47.
[6]Vaclav Havel, Living in Truth (London: Faber and Faber, 1986), pp.36-122.
[7]Vladimir Tismaneanu, "Nascent Civil Society in the German Democratic Republic," Problems of Communism, 38 (March-June 1989), 102.
[8]Benda et al. Nhà xã hội học người Hungary, Elemer Hankiss, đã phát triển khái niệm "xã hội thứ hai."
[9]Xem Janina Frentzel-Zagorska, "Civil Society in Poland and Hungary," Soviet Studies, 42 (1990), 763, để có thống kê về lòng tin và sự ủng hộ đối với giới lãnh đạo Ba Lan và Hungary.
[10]Xem Ferenc Miszlivetz, "Civil Society in Eastern Europe? The Case of Hungary," World Futures, 29 (1990), 91, để có các giải thích tại sao quá trình này ở Hungary lại khó khăn hơn. Một trong những lý do quan trọng nhất là khoảng cách ngày càng rộng giữa giới trí thức Hungary và công chúng, đặc biệt là công nhân. Xem thêm Timothy Garton Ash, "The Hungarian Lesson," New York Review of Books, Dec. 5, 1985, pp. 5-9.
[11]Teresa Rakowska-Harmstone, "Nationalism and Integration in Eastern Europe: The Dynamics of Change," in Teresa Rakowska-Harmstone and Andrew Gyorgy, eds., Communism in Eastern Europe (Bloomington: Indiana University Press, 1981), pp. 320-321.
[12]Reddaway nhấn mạnh rằng một lý do đưa đến thất bại này là sự bất khả thi trong việc kéo dài mãi cái xã hội bị nguyên tử hóa của Stalin. Peter Reddaway, ed., Uncensored Russia: Protest and Dissent in the Soviet Union (New York: American Heritage Press, 1972), p. 39.
[13]Xem, ví dụ, cuộc bút chiến Sakharov-Solzhenitsyn trong Vladimir E. Maximov, ed., Kontinent (New York:Anchor Press/Doubleday, 1976), pp. 1-23.
[14]Reddaway, p. 18.
[15]Dmitrii Nelidov, "Ideocratic Consciousness and Personality," in Michael G. Meerson-Aksenov and Boris I. Shragin, eds., The Political, Social and Religious Thought of Russian 'Samizdat' (Belmont: Nordland Publishing Co., 1977), p. 290.
[16]Meerson-Aksenov and Shragin, p. 228.
[17]K. Zhitnikov, "The Decline of the Democratic Movement," in Meerson-Aksenov and Shragin, eds., pp. 237-238.
[18]Đây là giới hạn tự vệ của Andrei Amalrik, ví dụ, trong Involuntary Journey to Siberia (London: Harcourt Brace Jovanovich, 1970).
[19]Skilling, Samizdat and an Independent Society in Central and Eastern Europe, p. 203.
[20]Ferenc Feher, Agnes Heller, and Gyorgy Markus, eds., Dictatorship over Needs (New York: St. Martin's Press, 1983), pp. 137-155.
[21]Roy A. Medvedev, On Soviet Dissent (London: Constable, 1980), cited in David Lane, State and Politics in the USSR (New York: New York University Press, 1985), p. 271.
[22]Peter Reddaway, "Soviet Dissent," Problems of Communism, 32 (November-December 1983), 14; Jeffrey W. Hahn, Soviet Grassroots; Citizen Participation in Local Soviet Government (Princeton: Princeton University Press, 1988), pp. 285-287.
[23]Walter D. Connor, Socialism's Dilemma: State and Society in the Soviet Bloc (New York: Columbia University Press, 1988), p. 45.
[24]I. Zhukova et al., "Samodeiatel'nyie initsiativy: Neformal'nyi vzglad" ("Independent Initiatives: Informal View"), Kommunist, 9 (1988), 98.
[25]V. G. AlekXemva, "Neformarnye gruppy podrostkov v usloviiakh goroda" ("Informal Youth Groups in Urban Conditions"), Sotziologicheskie issledovania, 3 (1977), 60-70, khảo sát các nhóm thường niên tại các vùng đô thị và kêu gọi các nhà giáo dục phải tận tụy hơn trong việc xã hội hóa sinh viên.
[26]Tatiana I. Zaslavskaia, "Creative Activity of the Masses: Social Reserves of Growth," Problems of Economics, 29 (March 1987), 11.
[27]O. N. Ianitskii, Grazhdanskie initsiativy i samodeiatel'nost' mass (Citizen Initiatives and the Spontaneous Activity of the Masses) Moskow: Znanie, 1988).
[28]Philip G. Roeder, "Modernization and Participation in the Leninist Developmental Strategy," American Political Science Review, 83 (September 1989), 859-884; Donna Bahry and Brian D. Silver, "Soviet Citizen Participation on the Eve of Democratization," American Political Science Review, 84 (September 1990), 821-847.

BÀI 3: http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/xa-hoi-dan-su-trong-cac-che-o-cong-san_6210.html

Xã hội dân sự trong các chế độ cộng sản đang đổi mới: Logic xuất hiện ( Bài 1 )


Marcia A. Weigle, Jim Butterfield
Lâm Yến dịch




Các phân tích về sự hình thành và phát triển của xã hội dân sự trong các chế độ kiểu Soviet được bắt đầu trong giai đoạn Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan năm 1980-81. Khi đó, các học giả bắt đầu tìm cách giải thích mô thức của sự tham dự xã hội độc lập (independent social participation) trong điều kiện xã hội nói chung bị chỉ đạo bởi nhà nước [1] . Từ năm 1985, khi hàng chục ngàn nhóm và chính đảng không chính thức xuất hiện ở USSR sau các chương trình cải cách glasnost và perestroika của Gorbachev, khái niệm xã hội dân sự lại được dùng để mô tả các vận động xã hội tích cực. [2] Mặc cho việc khái niệm này được sử dụng phổ biến ở cả Trung Âu và USSR, ít ai chịu so sánh sự phát triển của xã hội dân sự ở các chế độ kiểu Soviet, chủ yếu vì USSR là một trường hợp quá độc đáo do điều kiện lịch sử đặc biệt và sự phát triển bản địa của chủ nghĩa Mác - Lê nin ở đây. [3] Tuy vậy, dù có những khác biệt hiển nhiên giữa các quốc gia, một sự so sánh như thế vẫn có ích, khi mà nền khoa học chính trị phương Tây đang cố gắng lắp ghép các mảnh puzzle hậu toàn trị lại với nhau (từ các thông tin về hành vi nhóm và hành động tập thể) bằng cách khuyến khích các phân tích mang tính hệ thống hơn về các nguyên nhân và các hình thức tham dự xã hội trong các nhà nước Cộng sản đang chuyển đổi. [4]

Trong khi những diễn biến nhanh chóng và phức tạp ở Trung Âu và USSR không cho phép một sự phân loại chặt chẽ, chúng tôi dựa phân tích của mình trên các xu hướng khá rõ ràng trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và so sánh chúng với các xu hướng ở Liên Xô (cũ). Kinh nghiệm ở Trung Âu cho thấy có bốn giai đoạn trong diễn trình phát triển của xã hội dân sự: tự vệ- các cá nhân và nhóm độc lập [đấu tranh] với nhà nước để bảo vệ quyền tự chủ một cách chủ động hoặc bị động; xuất hiện- các nhóm và phong trào độc lập theo đuổi các mục tiêu giới hạn trong một không gian công đã được mở rộng (kết quả của sự nhượng bộ hoặc thừa nhận của nhà nước-đảng đang trong quá trình đổi mới); động viên- các nhóm và phong trào độc lập làm xói mòn tính chính đáng của đảng-nhà nước bằng cách giới thiệu các hình thức quản lý nhà nước mới cho xã hội (khi đó đã được chính trị hóa); và được thể chế hóa- các lãnh đạo (được công chúng ủng hộ) luật hóa các luật bảo đảm tính độc lập cho các hoạt động xã hội, dẫn tới quan hệ khế ước giữa nhà nước và xã hội cuối cùng được điều chỉnh bằng các cuộc bầu cử tự do.

Chúng tôi cho rằng trong 2 giai đoạn đầu (tự vệ và xuất hiện), xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR có thể được so sánh trên cơ sở kiểu chế độ. Có nghĩa là, các chế độ Cộng sản trong các hệ thống xã hội hậu toàn trị đã định hình một mô hình phát triển đặc biệt của xã hội dân sự: Trong các chế độ kiểu Soviet, những cuộc khủng hoảng có hệ thống, trong bối cảnh hậu toàn trị, đã đem lại một kiểu phát triển xã hội dân sự đặc biệt trong 2 giai đoạn đầu tiên, khi mà các nhà hoạt động xã hội nỗ lực bảo vệ sự tự chủ của mình khỏi sự thâm nhập của nhà nước-đảng và, khi có cơ hội thích đáng, sẽ bày lợi ích và yêu sách của họ trong một không gian công mở rộng. Sự mở rộng của các hoạt động độc lập sẽ ngày càng mâu thuẫn với nền tảng của tính chính đáng và quyền lực của một đảng cầm quyền, dẫn tới sự chấm dứt nền cai trị của Cộng sản. Một khi các nhà hoạt động xã hội trong các xã hội dân sự đang xuất hiện ngồi lại với nhau, nhằm đưa ra các phương pháp quản lý xã hội mới (và bằng các phương pháp mới đó, họ tìm cách thể chế hóa những thành quả mà xã hội độc lập đã đạt được), [thì khi đó], mô thức phát triển của xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR bắt đầu phân hóa. Trong 2 giai đoạn sau của diễn trình phát triển xã hội dân sự, các đặc trưng của xã hội dân sự mang tính độc đáo với từng nước, phụ thuộc phần lớn vào lịch sử, văn hóa chính trị (đặc biệt là khuynh hướng tự tổ chức của xã hội và quan hệ giữa các giai cấp xã hội khác nhau), các hình thái chủ nghĩa dân tộc nhất định, và bối cảnh xã hội cho sự phát triển thể chế.

Trong bài báo này, chúng tôi so sánh 2 giai đoạn đầu của diễn trình phát triển xã hội dân sự trong các nước Ba Lan, Hungary và Czechoslovakia với diễn trình ở USSR trên cơ sở kiểu chế độ, và với mục đích làm rõ logic xuất hiện của xã hội dân sự trong các chế độ kiểu Soviet. Hai giai đoạn cuối (trong đó các đặc điểm xã hội và văn hóa trở nên quan trọng hơn kiểu chế độ trong việc quy định sự phát triển của xã hội dân sự) sẽ là chủ đề của nghiên cứu tiếp theo. Ở đây, chúng tôi bắt đầu bằng cách làm rõ bối cảnh của "kiểu chế độ" và "xã hội dân sự" và nối tiếp bằng phần so sánh.

Bối cảnh: Hậu toàn trị

Các chế độ "hậu toàn trị" có được tên gọi của mình (với tư cách là một dạng chế độ chuyên chế đặc biệt) trong một tiểu luận nổi tiếng của Juan Linz. [5] Lý luận của Linz là: các chế độ chuyên chế-kiểu-hậu toàn trị khác với các chế độ chuyên chế khác ở chỗ hậu toàn trị ít nhất cũng có mong muốn trở thành "toàn" xét về cơ sở tồn tại (raision d'etre) của nhà nước Stalinist. Mô hình nhà nước hậu toàn trị được đặc trưng bởi: (1) một quá trình chính trị xung đột hoàn toàn được cách ly với các yêu sách của các nhóm xã hội độc lập; (2) quá trình vận động và động viên tham dự xã hội chưa hoàn chỉnh; (3) sự khẳng định của nhà nước-đảng về tính chính đáng của họ dựa trên các nền tảng học thuyết và thành tích lãnh đạo, và (4) đảng khẳng định độc quyền đại diện cho các giá trị và lợi ích.

Các đặc trưng của hệ thống hậu toàn trị nhấn mạnh vào sự thống trị của đảng-nhà nước trong các quá trình xã hội và không chấp nhận các hoạt động xã hội độc lập, trong khi thừa nhận rằng các phương pháp thống trị và áp bức của nhà nước theo kiểu Stalinist (cái dẫn tới việc nguyên tử hóa xã hội) đã không còn đứng vững trong điều kiện xã hội đang hiện đại hóa và tính đa dạng của dân tộc. Trong khi các chế độ toàn trị kiểu Stalinist nhấn mạnh đến việc động viên tập trung [các nguồn lực] để thực hiện các mục tiêu xã hội và ý thức hệ theo sự lãnh đạo của đảng; thì các chế độ Cộng sản hậu toàn trị buộc phải hạn chế động viên [nguồn lực] bằng cách giảm kiểm soát các quá trình xã hội, trao quyền tự chủ rộng rãi hơn cho một số nhóm. [6]

Việc các chế độ hậu toàn trị giải phóng [một phần] bằng cách chấp nhận sự tự chủ của xã hội và (ở một mức độ lớn hơn là) dân tộc đã là chủ đề chính của nhiều nghiên cứu về quá trình chính trị trong các xã hội kiểu Soviet trong những năm cuối thập kỷ 1960 và 1970. Khi phân tích các hậu quả của sự tham dự xã hội rộng rãi, một số phân tích gia đã lập luận rằng các nhà nước kiểu Soviet đã vận động theo một phiên bản của mô hình lợi ích nhóm. [7] Đảng-nhà nước thừa nhận một số lợi ích thể chế là chính đáng, nhưng cũng nỗ lực kết hợp và kiểm soát các lợi ích này trong khuôn khổ các thể chế do nhà nước thống trị. [8] Trong khi diễn trình chính trị hậu toàn trị được đặc trưng bởi sự tổng hợp lợi ích, xung đột và giải pháp, và bị giới hạn trong các tham số của cơ chế nhà nước-đảng, thì quá trình chính trị vẫn được cách ly khỏi các lợi ích xã hội phi nhà nước và liên kết tự do. Trong những năm 1980, hiện tượng mô hình này không còn thỏa mãn được nhu cầu của chế độ (cũng như khát vọng của dân chúng) đã trở thành vấn đề trung tâm trong lĩnh vực [nghiên cứu] tham dự của công dân. Quá trình chuyển từ sự tham dự [do bị] động viên sang tự do liên kết và phát biểu lợi ích đã thúc đẩy các nghiên cứu về các xã hội dân sự đang xuất hiện tại Trung Âu và USSR. Trước khi khảo sát bản chất của quá trình này, chúng tôi muốn trình bày tiếp về bối cảnh của xã hội dân sự.

Xã hội dân sự

Thuật ngữ "xã hội dân sự" đã được sử dụng rộng rãi ở Trung Âu và USSR bởi cả các học giả và các nhà vận động (activists). Trong khi thuật ngữ này không được áp dụng có hệ thống bởi cả hai nhóm, có một điểm hiển nhiên là: chủ đề xã hội dân sự trong quan hệ với các chế độ Cộng sản chỉ xuất hiện khi có sự hiện diện của các hoạt động xã hội dựa trên việc tự do liên kết (chứ không phải tham dự bắt buộc) và phát biểu các lợi ích cả từ bên dưới và bên trên. Tại điểm này, cần làm rõ xã hội dân sự được hiểu là gì, và từ góc độ lý thuyết, làm thế nào nó có thể xuất hiện trong bối cảnh chủ nghĩa hậu toàn trị.

Chúng tôi dùng một phiên bản định nghĩa được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu gần đây về Trung Âu: một hình thái tự tổ chức độc lập của xã hội, trong đó các nhân tố cấu thành của nó tự nguyện tham gia vào các hoạt động công nhằm tìm kiếm các lợi ích cá nhân, nhóm và dân tộc trong phạm vi quan hệ nhà nước-xã hội được pháp luật quy định. Theo định nghĩa này, xã hội dân sự gồm 2 phần. Phần đầu là khung pháp lý cho phép [tồn tại] hình thái tự tổ chức của xã hội và quy định tính chất của quan hệ giữa nhà nước-xã hội, vì thế, bảo đảm quyền tự chủ của các nhóm xã hội. Đó là nền tảng thể chế cho xã hội dân sự, một điều kiện cần thiết phổ quát, nhưng cũng là cái mang nhiều nét khác biệt giữa các nước, tùy theo bối cảnh hình thành các thể chế và bộ luật ở từng nước. Phần hai là bản sắc của các nhà hoạt động xã hội và mục tiêu trong các hoạt động của họ. Những yếu tố này quy định thêm đặc điểm và hình thức tổ chức của xã hội dân sự. Chúng tôi gọi nó là định hướng của xã hội dân sự, và nó khác nhau khá nhiều giữa các xã hội, phụ thuộc vào các giá trị ẩn bên dưới các hoạt động độc lập trong không gian công. [9]

Sự khác biệt giữa nền tảng thể chế và định hướng của xã hội dân sự là điều kiện ban đầu để hiểu sự hình thành của xã hội dân sự trong các điều kiện lịch sử và quốc gia cụ thể đã diễn ra như thế nào. Các học giả đầu tiên của thuyết khế ước xã hội (contractarians) nhấn mạnh đến nền tảng thể chế của xã hội dân sự, đó là, một khế ước xã hội ràng buộc các thành viên của một cộng đồng tự nguyện vào các tập tục chung "nhằm cùng bảo vệ Cuộc sống, Tự do và Tài sản..." [10] Khi xây dựng một mô hình hữu cơ hơn về các quan hệ giữa nhà nước-xã hội, Hegel đã xóa nhòa ranh giới giữa sự tồn tại về pháp lý của xã hội dân sự với các căn bản hoạt động diễn ra trong nội bộ của nó bằng việc khẳng định rằng nhà nước bao gồm cả xã hội dân sự, do vậy, trong khi các hoạt động độc lập diễn ra trong vương quốc xã hội dân sự, [thì] phương hướng của các nhà hoạt động xã hội lại tuân theo định hướng của các lãnh đạo nhà nước, gây ra tính duy lý tuyệt đối trong quan hệ nhà nước-xã hội. [11] Khi nói đến mô hình hữu cơ của Hegel, Marx đã xóa hoàn toàn mọi khác biệt giữa sự tồn tại về pháp lý của một không gian công độc lập và phương hướng của các nhà hoạt động của nó. Tức là, mọi khung pháp lý về xã hội dân sự được thiết kế bên trong bối cảnh các quan hệ xã hội tư sản sẽ không thể không bị thống trị bởi các hành vi công hướng tới việc thỏa mãn các lợi ích tư sản. Các phương hướng khác của các nhà hoạt động xã hội, ví dụ, hướng tới lợi ích của [giai cấp] công nhân, sẽ không bao giờ trở thành hiện thực trong khung thể chế tư sản. Trong khi chính trị hóa Marx, Gramsci nhận thấy có nhiều khả năng để đạt được các lợi ích đối lập hơn ngay cả trong các khung khổ các quan hệ xã hội và cấu trúc pháp luật [mang tính] bóc lột. Các nhóm đối lập có thể thúc đẩy các lợi ích của mình, nếu họ [chịu] đối mặt với quyền lãnh đạo của các giai cấp thống trị bằng cách tiến hành một cuộc "chiến tranh vị trí" trong việc truyền bá lợi ích của họ trong đa sống công cộng. [12] Xã hội dân sự của Gramsci có thể vận hành theo cách mà xã hội dân sự của Marx không thể. Trên đấu trường bày tỏ quan điểm, phát biểu lợi ích, và hoạt động liên kết, xã hội dân sự có thể được giai cấp lao động sử dụng để dần dần tạo dựng quyền lãnh đạo của chính nó về các lợi ích, các phương hướng văn hóa, quan điểm ý thức hệ, để đánh dấu khúc dạo đầu cho sự thống trị của chính nó đối với nhà nước, và cuối cùng hấp thu nhà nước vào trong [chính cái] xã hội dân sự bị thống trị bởi lợi ích của giai cấp lao động.

Trong khung cảnh sự cầm quyền của Cộng sản theo kiểu hậu toàn trị ở Trung Âu, cách tiếp cận khế ước với hành vi công cộng độc lập (independent public activity) hoàn toàn không khả thi. [13] Không thể lựa chọn đại diện của mình vào bộ máy nhà nước, và do đó không thể có ảnh hưởng chính sách và không thể theo đuổi các lợi ích tư nhân trong một không gian công được luật pháp bảo vệ, những cá nhân trong xã hội không chấp nhận sự thống trị của nhà nước về liên kết và tham dự công cộng đành phải hoặc là rút về cuộc sống cá nhân và gia đình, hoặc xây dựng một cái thay thế - một mạng lưới liên kết và tham dự ngầm. Một cuộc cách mạng lật đổ, hoặc một sự thay đổi triệt để bộ máy nhà nước hoặc cơ sở xã hội cho quyền lực của nó, là chuyện không thể. Kinh nghiệm năm 1856 ở Hungary và năm 1968 ở Czechoslovakia đã cung cấp cho các nhà vận động độc lập và các đảng viên cải cách một bài học xương máu. Khi công chúng ngày càng hình thành rõ cho mình lộ trình cải cách trong những năm 1970 và 1980, lựa chọn duy nhất cho các tham dự độc lập là chấp nhận các ranh giới hệ thống của Cộng sản cầm quyền, và [chấp nhận] sự kiểm soát của chế độ đối với chính trị tầm cao, trong khi bày ra càng nhiều quyền tự chủ càng tốt trong không gian độc lập của các hoạt động công. [14] Theo cảm quan của Gramsci, những đường nét cơ bản của xã hội dân sự vì thế sẽ được hình thành ngay trong bối cảnh một nhà nước đàn áp. [15] Nói cách khác, các nhóm xã hội sẽ hình thành trên cơ sở các mục tiêu và lợi ích nhóm được phát biểu độc lập, tự giới hạn mục tiêu của mình trong các lĩnh vực không đe dọa đến quyền lực hay tính chính đáng của chế độ. Việc diễn dịch và bày tỏ lợi ích sẽ được theo đuổi độc lập (mặc dù vẫn liên hệ) với cấu trúc nhà nước thống trị và các quan hệ kinh tế. [16]

Vì thế, các thành phần hoạt động độc lập ở Trung Âu từ đầu những năm 1970 bắt đầu giả định rằng xã hội dân sự có thể xuất hiện bên trong các tham số của nhà nước hậu toàn trị. Sự xuất hiện này là khả thi thông qua việc bảo vệ quyền tự chủ của các nhà hoạt động xã hội, những người thông qua việc tham dự có phối hợp sẽ dần hình thành một cuộc "chiến tranh vị trí" chống lại các lợi ích của nhà nước Cộng sản, trong khi vẫn hoạt động trong các phạm vi được chế độ chấp nhận và không đe dọa đến tính chính đáng của nó. Kết quả có thể là sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước bị thống trị bởi một đảng duy nhất đang giữ vững sự kiểm soát trên các lộ trình kinh tế-chính trị rộng lớn, và một xã hội ngày càng độc lập được phép tự hình thành các lợi ích tư nhân hoặc địa phương (cái sẽ được hiện thực hóa thông qua các hình thức "tự quản lý" hoặc "tự quản trị"). Sáng kiến cho sự dàn xếp độc đáo này được hóa thân trong "chủ nghĩa tiến hóa mới" của Adam Michnik, là sản phẩm của các nhà hoạt động chính trị ở Ba Lan. Công thức này, nhìn từ một góc độ khác, được áp dụng dưới hình thức "nền đa nguyên xã hội chủ nghĩa" của Gorbachev ở USSR.

Việc khảo sát tập hợp tình huống cụ thể (mà trong đó đã hình thành các xã hội dân sự ở Trung Âu và USSR), cũng như diễn trình hoạt động của nó, cho thấy sự cân bằng tân-Gramsci (giữa một nhà nước thống trị và một xã hội ngày càng tự chủ hơn) là điều kiện cần cho sự phát triển của các xã hội dân sự ở các nước này, nhưng cũng là cái mang tính bất ổn định nội tại, và vì thế, chỉ có tính ngắn hạn. Ở Trung Âu, nền tảng tính chính đáng của chế độ vốn yếu kém, và xã hội có những nguồn lực để đưa ra các phương pháp quản lý xã hội mới thay thế. Ở USSR, nơi mà tính chính đáng của chế độ Cộng sản được cột chặt với (một vài dạng cá biệt của) chủ nghĩa dân tộc Nga, và các nhóm độc lập tỏ ra kém cố kết hơn trong hoạt động phản kháng của họ chống lại chế độ, thì giai đoạn bất ổn định còn kéo dài hơn nữa. Tuy nhiên, cuối cùng thì căng thẳng ẩn chứa sẵn trong quá trình chuyển giao quyền lực từ một nhà nước-đảng đang đổi mới sang một xã hội đang kiểm tra các giới hạn tham gia của mình sẽ phải được giải quyết, hoặc bằng việc nhà nước thu lại các đặc quyền tham gia [mà nó đã nhượng bộ], hoặc quá trình động viên của lực lượng đối lập sẽ [mạnh dần lên và] đủ khả năng đưa ra các hình thức quản lý xã hội mới. Các mẫu hình phát triển của xã hội dân sự đem đến nghịch lý về một đảng duy nhất tiếp tục cầm quyền trong bối cảnh các hoạt động xã hội ngày càng độc lập và phát triển theo khuynh hướng chính trị hóa. Tại điểm này, chúng tôi đã đi đến nghịch lý đó thông qua việc khảo sát các giai đoạn đầu của xã hội dân sự, từ chỗ nó bắt đầu tự bảo vệ mình chống lại sự thâm nhập của nhà nước, và sau đó xuất hiện với sự bùng phát các hoạt động thách thức lại đảng cầm quyền.

[1]Andrew Arato, "Civil Society against the State: Poland 1980-1981," Telos, 47 (1981), 23-47; Andrew Arato and Jean Cohen, "Social Movements, Civil Society, and the Problem of sovereignty," Praxis International, 4 (1984), 266-283; Z. A. Pelczynski, "Solidarity and the Rebirth of 'Civil Society,'" in John Keane, ed., Civil Society and the State (London: Verso, 1988), pp. 361-380; Zbigniew Rau, "Some Thoughts on Civil Society in Eastern Europe and the Lockean Contractarian Approach," Political Studies, 35 (1987), 573-592.

[2]Xem, ví dụ, Moshe Lewin, The Gorbachev Phenomenon: A Historical Perspective (Berkeley: University of California Press, 1988); Gail W. Lapidus, "State and Society: Toward the Emergence of Civil Society in the Soviet Union," in Seweryn Bialer, ed., Politics, Society, and Nationality inside Gorbachev's Russia (Boulder: Westview Press, 1989), pp. 121-147; S. Frederick Starr, "Soviet Union: A Civil Society," Foreign Policy, 70 (Spring 1988), 26-43.

[3]H. Gordon Skilling, Samizdat and an Independent Society in Central and Eastern Europe (Columbus: Ohio State University Press, 1989).

[4]Sidney Tarrow, "Aiming at a Moving Target: Social Science and the Recent Rebellions in Eastern Europe," PS: Political Science and Politics, 24 (March 1991), 12-20.
[5]Juan Linz, "Totalitarianism and Authoritarianism," in Fred I. Greenstein and Nelson W. Polsby, eds., The Handbook of Political Science, 3: Macropolitical Theory (Reading: Addison Wesley, 1975), pp. 336-350.

[6]Ibid., p. 340.

[7]Xem Gordon Skilling, "Interest Groups and Communist Politics," World Politics, 18 (April 1966), 435-451; Gordon Skilling and Franklyn Griffiths, eds., Interest Groups in Soviet Politics (Princeton: Princeton University Press, 1971); Jerry Hough, "Petrification or Pluralism?," Problems of Communism, 21 (March-April 1972), 25-45, Các phê phán về cách tiếp cận này dựa trên lập luận rằng bất kì một mô hình đa nguyên nào cũng đều không khả thi trong bối cảnh thể chế kiểu Soviet, nơi không có sự tham gia xã hội độc lập. Xem Andrew Janos, "Group Politics in Communist Society: A Second Look at the Pluralist Model," in Samuel P. Huntington and Clement H. Moore, eds., Authoritarian Politics in Modern Society (New York: Basic Books, 1970), pp. 437-450, and William Odom, "A Dissenting View on the Group Approach to Soviet Politics," World Politics, 28 (July 1976), 542-567.

[8]Valerie Bunce and John Echols, "Soviet Politics in the Brezhnev Era: 'Pluralism' or 'Corporatism'?," in Donald Kelley, ed., Soviet Politics in the Brezhnev Era (New York: Praeger Publishers, 1980).

[9]Maria Markus discusses this as the "framework" and "content" of private activities in "Overt and Covert Modes of Legitimation in East European Societies," in T. H. Rigby and Ferenc Feher, eds., Political Legitimation in Communist States (New York: St. Martin's Press, 1982), p. 86.

[10]John Locke, Two Treatises of Government (New York: Cambridge University Press, 1963), p. 395. Xem thêm Rau, pp. 582-583.

[11]Norberto Robbio, "Gramsci and the Conception of Civil Society," in Chantal Mouffe, ed., Gramsci and Marxist Theory (London: Routledge & Kegan Paul, 1979), p. 22.

[12]David Forgacs, ed., An Antonio Gramsci Reader (New York: Schocken Books, 1988).
[13]Rau, p. 584, lý luận rằng "các nhóm độc lập trỗi dậy như là hiệu ứng của khế ước xã hội kiểu Locke; và..., với tư cách là các cộng đồng đạo đức, là các xã hội dân sự kiểu Locke." Mặc dù cách lập luận này có thể đúng với các nhóm -như là các cộng đồng đạo đức, nó xem nhẹ thực tế là các nhóm độc lập không cầu viện đến các phân xử pháp lý trong các xung đột giữa các nhóm với nhà nước, hay các chủ thể xã hội độc lập khác; mà cũng chẳng có bất kì những đảm bảo về mặt thể chế cho sự tự trị của các nhóm và cá nhân.

[14]Trong cách phân loại của Seweryn Bialer, "chính trị bậc cao" nói đến "các vấn đề chính trị chính yếu của xã hội, các ý tưởng và ngôn ngữ trừu tượng của chính trị học, các quyết định và hoạt động của các nhà lãnh đạo xã hội," trong khi "chính trị bậc thấp" bao gồm "các quyết định trực tiếp liên quan đến cuộc sống hàng ngày của công dân, các vấn đề của đa phương, và các điều kiện ở nơi làm việc." Xem Seweryn Bialer, Stalin's Successors: Leadership, Stability, and Change in the Soviet Union (Cambridge: Cambridge University Press, 1980), p. 166.

[15]Muốn khảo sát những năm tháng phát triển đầu tiên của xã hội dân sự ở Ba Lan, xem Jacques Rupnik, "Dissent in Poland, 1968-1978: The End of Revisionism and the Rebirth of Civil Society," in Rudolf L. Tokes, ed., Opposition in Eastern Europe (Baltimore: The Johns Hopkins University Press, 1979), 60-112. For a distinction between civil and political society, Xem Pelczynski.

[16]Andrew Arato, "Civil Society, History and Socialism: Reply to John Keane," Praxis International, 9 (April-July 1989), 133-151, esp. 141 and 146.

BÀI 2: http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/xa-hoi-dan-su-trong-cac-che-o-cong-san_27.html

Sunday, April 21, 2013

Trương Tấn Sang: 'Điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam' (phần 4)


Các phân tích ở các Phần (1), (2) và (3) cho thấy bản chất của Trương Tấn Sang từ khi còn là một du kích cho đến khi là Chủ tịch nước như hiện tại vẫn không hề thay đổi, đó là:

1. Sẵn sàng thoả hiệp với mọi loại đối tượng để đạt được mục đích và để thực hiện thoả hiệp thì sẵn sàng làm mọi việc bán đứng đồng đội, cõng rắn cắn gà nhà, chống phá Đảng, bán rẻ chủ quyền đất nước cho ngoại bang, bất chấp lợi ích của nhân dân và của dân tộc,…

2. Ham mê quyền lực và vị trí càng cao càng làm bậy. Vì chưa hài lòng với vị trí Chủ tịch nước, muốn cái ghế Thủ tướng hay Tổng bí thư mà sẵn sàng câu kết với các thế lực phản động, thoả hiệp với Trung Quốc để đạt được mục tiêu ham mê quyền lực. Nhìn lại quá trình cho thấy ở vị trí càng cao Trương Tấn Sang càng làm những việc càng sai trái. Từ khai báo, quy hàng Mỹ khi còn là một du kích; đến tham nhũng, lộng quyền và sa đoạ khi là Bí thư Thành Uỷ TPHCM; có mưu đồ phá Đảng về kinh tế từ khi lên được chức Thường trực Ban Bí thư; … và bán nước cầu vinh, chống phá Đảng khi làm Chủ tịch nước như hiện nay.
3. Nói hay thì không làm được, việc làm đi ngược với lời nói và chưa làm được điều gì cho đất nước. Gần đây dư luận đã nhận thấy và lên tiếng đả kích Trương Tấn Sang, một con người với hàng loạt những sai phạm nghiêm trọng về tham nhũng, lợi ích nhóm và phá Đảng lại lên giọng trong sạch, kêu gọi và kích động tấn công Thủ tướng, đả kích Đảng vì các động cơ cá nhân. Thực tế đã cho thấy trong suốt mấy chục năm qua, 4Sang không hề làm được gì ngoài những lời nói hay. Trên thực tế, 4Sang chưa hề tạo được một công trình, một dấu ấn hay một sản phẩm thiết thực nào cho đất nước và cho nhân dân, ngoài những lời nói suông!

4. Thường xuyên lạm dụng quyền lực nhà nước nhằm khống chế, đe doạ và trùm úm bộ máy nhà nước nhằm phục vụ các mục đích riêng. Đây là một đặc điểm mà 4Sang rất khéo che đậy. Trên thực tế 4Sang đã trực tiếp và gián tiếp vươn vòi tác động, gây ảnh hưởng để phục vụ nhóm lợi ích của mình; khống chế truyền thông báo chí để thực hiện bôi đen Chính phủ và Đảng theo ý đồ của Trung Quốc; móc ngoặc với những cán bộ thoái hoá biến chất trong lực lượng công an, viện kiểm soát để chạy án và chạy tội cho nhóm lợi ích như đã và đang chạy án cho Đặng Thị Hoàng Yến, Đặng Thành Tâm (SGI) và Đặng Văn Thành (Sacombank); can thiệp thô bạo vào bộ máy lập pháp để ngăn chặn các luật nhằm hợp thức hoá chủ quyền biển đảo, quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam;…

5. Là người chuyên gây mất đoàn kết, phá hoại nội bộ từ thấp lên cao. Với bản chất lệnh lạc về tư tưởng và đường lối, chuyên nói mà không làm, thích soi mói tìm sơ hở của người khác nhằm tranh giành quyền lực nên ở mọi vị trí công tác 4Sang luôn là kẻ gây mất đoàn kết nội bộ. Trên thực tế, 4Sang là thủ phạm gây nên kết quả cán bộ Đảng viên và quần chúng nhân dân mất lòng tin vào Đảng. Vì bổng lộc và vị trí mà Trung Quốc đang hứa hẹn, 4Sang sẵn sàng bôi đen, đạp đổ khi không đạt được mục đích và sẵn sàng phá nát Đảng Cộng sản Việt Nam khi cần.

Mỹ và Trung Quốc đều muốn thông qua Trương Tấn Sang để khống chế Việt Nam
Mỹ và Trung Quốc từ lâu đã nhận thấy được các bản chất trên và đều nhận định Trương Tấn Sang là điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam nên đã và đang tích cực gây ảnh hưởng, mua chuộc và khai thác.

Đối với Trung Quốc, Trương Tấn Sang là yết hầu để khống chế và Đảng Cộng sản Việt Nam làm suy yếu, mất đoàn kết từ bên trong từ đó sẽ thực hiện các chính sách theo ý đồ nhằm đưa Việt Nam thành chư hầu và trở thành bàn đạp để Trung Quốc khống chế khu vực Đông Nam Á.

Đối với Mỹ, một Trương Tấn Sang mất phương hướng và đang tự diễn biến là nguyên nhân Đảng Cộng sản Việt Nam mất uy tín, mất lòng tin trong và ngoài Đảng là nguyên nhân gây ra sự sụp đổ chóng vánh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời gian sắp tới. Mỹ nhận định cần tích cực can thiệp và hỗ trợ Trương Tấn Sang để đẩy nhanh quá trình này thông qua hoạt động của các tổ chức dân sự, các hoạt động tình báo nhằm thúc đẩy một cuộc cách mạng “hoa sen” nhằm lật đổ chế độ Cộng sản tồn tại mấy mươi năm qua tại Việt Nam.

Trương Tấn Sang là đích ngắm, và hiện đang chủ động thoả hiệp làm con rối cho cho cả hai thế lực này giật dây nhằm phục vụ mưu đồ thâu tóm quyền lực cá nhân. Ý thức rất rõ việc đặt vận mệnh của quốc gia, của dân tộc và của Đảng trước nanh vuốt của hai thế lực hùng mạnh nhất thế giới, nhưng quyền lực mà Trương Tấn Sang muốn có còn lớn hơn cả sự tồn vong của quốc gia, của dân tộc và của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Đó là lý do Trương Tấn Sang được cả CIA và tình báo Hoa Nam gọi là: “Điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam”

(Còn tiếp)

Saturday, April 20, 2013

Trương Tấn Sang: 'Điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam' (phần 3)


Phục tùng trước tiền vàng và chức vụ Trung Quốc ban cho, vì cái ghế để mặc cho đất nước dân tộc suy vong

Trong những lần gặp gỡ riêng với Hồ Cẩm Đào, 4Sang đã tự tuyên bố “biển Đông là của chung, chúng ta cùng khai thác, có các đ/c cũng như có chúng tôi ở đó”. Chính vì muốn dựa vào Trung Quốc nên 4Sang đã thoả hiệp và vì thoả hiệp nên phải im lặng để Trung Quốc tung hoành trên biển Đông và thậm chí 4Sang còn nhiều lần ra tay ngăn chặn các hoạt động bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Trong những lần đi đêm với Trung Quốc, 4Sang đã thoả thuận 08 vấn đề chính, theo đó nếu được đưa lên làm Thủ tướng hay Tổng bí thư, 4Sang sẽ tác động để Việt Nam sẽ nhượng thêm 1 số đảo và đất cho Trung Quốc, chính thức đồng ý để Trung Quốc lập các đơn vị hành chính trên các vùng đất chiếm được,... Đổi lại Trung Quốc phải cung cấp tiền bạc, bảo vệ 4Sang và nhóm lợi ích của mình.
4Sang thường hay phát biểu: “có kẻ cõng rắn cắn gà nhà”, “thọc gậy bánh xe”, các câu này từ cửa miệng Chủ tịch nước Trương Tấn Sang ắt hẳn ông đã thấy mới nói. Vậy đó kẻ là ai? Bản thân là Chủ tịch nước, là người thống lĩnh quân đội đã nhìn thấy kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, kẻ “thọc gậy bánh xe” mà để yên vậy sao? Là Chủ tịch nước thấy mà không xử, nói mà không làm, thì thật đáng “hổ thẹn với tiền nhân”, với non sông đất nước và không xứng đáng với vị trí Chủ tịch nước.

Vậy kẻ “cõng rắn cắn gà nhà”, “thọc gậy bánh xe” là ai mà 4Sang không thể làm gì? Không ai khác đó chính là Trương Tấn Sang, đang giữ chức Chủ tịch nước, một người đã nhiều lần một mình đi thăm Trung quốc, một mình tiếp sứ giả Trung Quốc và rất được Trung Quốc sủng ái. Trung Quốc cố ép để đưa Trương Tấn Sang vào chiếc ghế Tổng bí thư hoặc Thủ tướng, nên Trương Tấn Sang dựa vào đây để khi xuống các Bộ vẫn nói: “Nếu ở cương vị đó (Tổng bí thư hoặc Thủ tướng) tôi sẽ làm tốt hơn. Tư Sang mê và nhắm đến chức Thủ tướng từ 15 năm trước nên đã từng bám gót, theo dõi và tung đòn đánh Thủ tướng Phan Văn Khải suốt thời kỳ ông này tại vị. Nay đến Nguyễn Tấn Dũng cũng y bài cũ. Nguyễn Tấn Dũng quyết liệt hơn, ở thời kỳ kinh tế khó khăn hơn, nên dễ có nhiều điều để xuyên tạc, Tư Sang là người có nhiều tham vọng điên cuồng quá mức.

Tư Sang là con người mỵ dân, nói giỏi làm dở, mà chưa làm gì được gì cho đất nước!

Giờ đây, không ai khác là Trương Tấn Sang, anh ta đã vâng lệnh nhà cầm quyền Trung Quốc để chỉ đạo tay chân lập blog Quan làm báo để đánh Thủ tướng, đánh Chính phủ nhằm phá nát nội bộ. Trên mạng thì nói xấu đủ điều với văn phong của thằng ăn cướp, trên thực tế trong các cuộc tiếp xúc cử tri ở TP.Hồ Chí Minh Trương Tấn Sang lớn tiếng khẳng định sẽ phải xử lý người đứng đầu, phải lấy phiếu tín nhiệm,… tất cả đều nhằm vào Chính phủ, vào Thủ tướng đến mức một vị cựu lãnh đạo phải thốt lên “Trương Tấn Sang nã pháo cối vào Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”. Quá mãi mê ra đòn, 4 Sang quên rằng ông Dũng là Uỷ viên Bộ chính trị, là Thủ tướng do Đảng và do quốc hội (do dân) bầu lên. Cớ gì ông vạch áo cho người xem lưng, cớ gì ông nã pháo vào Thủ tướng, phải chăng ông đã nả vào Đảng, nã vào dân. Phải chăng ông cũng cay cú về việc Quốc hội thông qua luật biển Đông làm phật lòng Trung Quốc nên phải nói cho vừa lòng Trung Quốc, mà quên cả tập thể Bộ chính trị. Trong lúc đất nước phải lèo lái qua cơn bão khủng hoảng kinh tế cực kỳ khó khăn, ông Sang không đoàn kết để tạo sức mạnh, lại nã pháo vào chính phủ để làm gì, nếu không phải để đập vào Đảng và chính phủ nhằm làm suy yếu theo chỉ đạo của nhà cầm quyền Trung Quốc.

Khống chế báo chí, chỉ huy một bộ phận giới truyền thông tạo dư luận xấu, bôi đen nhằm hạ thấp uy tín của Đảng và Chính phủ
Khi đi tiếp xúc cử tri, khi được người dân hỏi về việc truyền thông bị đe doạ và trù dập, 4Sang trả lời rất khẳng khái: “Gần đây có anh em báo chí gặp tôi than vãn là không được coi trọng lắm. Tôi có nghe đồn thổi là ông A, ông B, ông C nào đó ra lệnh cấm đoán. Như vậy là không có quyền. Ai đó có thẩm quyền riêng thì thẩm quyền đó phải được quy định trong điều lệ Đảng hoặc trong Hiến pháp, hoặc trong những đạo luật về tổ chức. Nếu cấm thì phải nhân danh cái gì, căn cứ đạo luật nào quy định thì mới được”.

Trên thực tế thì chính tổng biên tập các tờ báo lớn là hiểu rõ nhất bản chất hành xử của 4Sang đối với báo chí. Trong vụ vận động để tăng quyền cho Chủ tịch nước, 4Sang đã chỉ đạo Nguyễn Văn Tuấn - Phó thống đốc ngân hàng nhà nước, tướng Vũ Hải Triều và một số nhân vật khác đi mồi chài một số trí thức và vận động, mua chuộc một vài tờ báo để sau hội thảo về Hiến pháp tại Đại học quốc gia Hà Nội phải lập tức viết các bài kiểu “trao chính phủ quyền lực lớn quá”, “Cần khẳng định chức vụ Chủ tịch nước là cao nhất và phải được nắm các Bộ quốc phòng, Công an, Ngoại giao”, một âm mưu thâm độc và trơ trẻn.

Trương Tấn Sang thiết lập một mạng lưới chân rết theo dõi việc phân công viết tin bài ở các tờ báo lớn và dùng Hải lùn (nguyên là trợ lý của 4Sang) làm “tư lệnh” mặt trận báo chí. Hải thường gọi điện cho các Tổng biên tập truyền đạt ý kiến “anh Tư” chỉ đạo đưa bài này, đánh vụ kia… Trong trường hợp các báo cứng đầu không chịu nghe lời “tư lệnh” Hải lùn, tổng biên tập báo đó sẽ nhận điện thoại hỏi thăm sức khoẻ từ 4Sang, trong đó gán ghép và ép buộc thô bạo phải chỉnh sửa hoặc rút các bài có lợi cho Thủ tướng và Chính phủ.

Mặt khác, Trương Tấn Sang cho Đặng Thị Hoàng Yến chạy sang Mỹ mở mạng Quan làm báo, dùng Hải lùn, Bùi Thị Keng (Vụ trưởng vụ pháp luật, Văn phòng Chủ tịch nước) cung cấp thông tin cho Đặng Thành Tâm, có khi Trương Tấn Sang trực tiếp trao đổi với Tâm để Tâm chuyển ra các thông tin nội bộ tối mật, tuyệt mật mà chỉ có tầm Trương Tấn Sang mới được biết.


(Còn tiếp)

Trương Tấn Sang: 'Điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam' (phần 2)


Lợi dụng Đảng, lừa Tổng Bí Thư để đánh Thủ tướng và Chính phủ để phục vụ ý đồ của Trung Quốc

Ở Việt Nam Đảng lãnh đạo, Quốc hội là cơ quan lập pháp, Chính phủ là cơ quan hành pháp. Nghĩa là chỉ có Chính phủ, UBND các cấp là người làm. Càng làm nhiều, càng quyết liệt thì sẽ có nhiều sai sót, vấn đề là có sai thì sửa và cứ thế tiến lên. Vần đề là Trung Quốc nhận định Thủ tướng Chính phủ là người kiên quyết không theo Trung Quốc, quyết giữ độc lập dân tộc và vì vậy bị đưa vào tầm ngắm. Ý đồ của Trung Quốc là phải tung tin, bôi bẩn để mọi người nhìn Chính phủ thật đen, sau đó lợi dụng chỉnh đốn đảng và chống tham nhũng để ghép tội cho Thủ tướng và Chính phủ. Kế đến dùng Quốc hội để bỏ phiếu tín nhiệm và từ đó “lật” và dựng một Chính phủ do Trương Tấn Sang đứng đầu và làm theo ý họ là phải tuân phục TQ, phải dâng biển đảo VN cho Trung Quốc.


Thực hiện ý đồ này của Trung Quốc, 4Sang đã tích cực phối hợp với Yến và Tâm để phát triển Quan Làm Báo như đã nói ở trên. Song song đó, 4Sang ra tay phân hoá nội bộ bằng cách vận động các cụ nguyên Tổng bí thư như Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và các vị lão thành cách mạng cao cấp bằng cách cung cấp đến các cụ những thông tin sai lệch nhằm và lấy chữ ký các cụ trong một thư vận động lật đổ Thủ tướng. Sau đó 4Sang dùng thư này báo cáo sai lệch cho Tổng bí thư và yêu cầu phải “xử lý” để “bảo vệ Đảng”. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã rất trăn trở vì lá thư và do chịu áp lực từ những cú điện thoại của các cụ nên đã thống nhất với Trương Tấn Sang là đưa ra Bộ chính trị và Ban chấp hành TW để xem xét.

Thực hiện xong bước này 4Sang liền gọi Tô Huy Rứa, Trần Lưu Hải (Phó ban trực Ban tổ chức TW) và Nguyễn Xuân Phúc để thông báo và lên kế hoạch hành động. Phúc, Rứa và Trần Lưu Hải đã tiếp tục lôi kéo một số Uỷ viên Bộ chính trị và Uỷ viên TW khác ra đòn. Tiếp theo, 4Sang lập kế kỷ luật tập thể để kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng và thông qua được Bộ chính trị nhưng ý đồ này cuối cùng đã bị Ban chấp hành Trung Ương sáng suốt ngăn chặn.

Sự thật là, Trương Tấn Sang luôn duy trì bộ máy bao vây chính phủ từ thời đ/c Phan Văn Khải làm Thủ tướng, càng về sau càng rõ hơn. Đặc biệt giai đoạn 2009-2010 có Đại hội Đảng nên Trương Tấn Sang chỉ đạo tấn công toàn diện, có kế hoạch, có mưu mô, có tổ chức. 4Sang dùng cả bàn tay địch, cả loại trí thức bất mãn, dùng cả công luận và công cụ của đảng để đánh Thủ tướng để lật đổ và giành ghế.

Một việc trong hàng loạt việc Trương Tấn Sang lập ra để đánh Thủ tướng, đánh chính phủ là vụ Vinashin. Khi chưa đến 06 tháng nữa là Đại hội Đảng, 4Sang vận động cho kiểm tra Vinashin và khi Uỷ Ban Kiểm Tra vừa làm xong chưa báo cáo Bộ Chính Trị, chưa có kết luận cuối cùng thì Trương Tấn Sang đã cho thư ký gởi ngay thông tin cho tổng biên tập các báo lớn, rồi trực tiếp gọi điện thoại cho họ yêu cầu phải đưa lên báo trước ngày 13/7/2010 nhằm gây áp lực trước cuộc họp Bộ Chính Trị nghe Ủy Ban Kiểm Tra báo cáo. Lúc đó, chủ nhiệm Uỷ Ban Kiểm Tra Nguyễn Văn Chi là người đã thoả thuận với 4Sang “Sang lên, Chi ở lại thêm khoá nữa” để “thần tốc” dùng Vinashin đánh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ngày 31/7/2010, Bộ Chính Trị đã họp và có kết luận về vụ Vinashin rất rõ ràng và hoàn toàn khác với nội hàm các bài báo mà Trương Tấn Sang đã chỉ đạo. Điều này có nghĩa là hành vi của Trương Tấn Sang vi phạm nguyên tắc Đảng và âm mưu biến công cụ của đảng, biến công luận thành công cụ riêng của Trương Tấn Sang đã thất bại.

Tập hợp và sử dụng cán bộ thoái hoá, các trí thức bất mãn và các phần tử phản động để chống Chính phủ, chống Đảng

Để thực hiện ý đồ của Trung Quốc, 4Sang đã không ngần ngại lôi kéo, mua chuộc bằng tiền bạc và chức vụ một số cán bộ thoái hoá, khích lệ các trí thức bất mãn có tư tưởng chống Đảng và thậm chí móc nối với các nhóm phản động.

Trên thực tế, 4Sang đã nắm được Nguyễn Khánh Toàn nguyên Thứ trưởng Bộ Công An và Vũ Hải Triều nguyên Tổng cục phó Tổng cục An ninh 2 dù đã nghỉ hưu nhưng vẫn thông qua các đệ tử như Nguyễn Xuân Mừng, Hoàng Ngọc Tú, Bùi Minh Tuyên, Nguyễn Văn Tuấn - Phó thống đốc ngân hàng nhà nước,… để dùng quân lính trong lực lượng Công an lục lọi tìm vết các tập đoàn, công ty nhà nước, các Ngân hàng thương mại, hễ cái nào xấu là vơ vào và đỗ vạ vu khống cho Chính phủ, cho Thủ tướng trong nội bộ Đảng lẫn trên blog Quan Làm Báo.

Ngoài ra, Trương Tấn Sang thông qua Chu Hảo để nắm nhóm trí thức bất mãn trong Viện IDS có tư tưởng chống Đảng ở Hà Nội và TPHCM (đã bị giải thể) lập mạng, viết báo đánh vào Chính phủ và Thủ tướng. Trương Tấn Sang đã kích động “mọi người hãy đứng lên”, “ai nói nhân dân sai thì chính là người đó sai”, khen ngợi các phần tử chống đối và cho người đến để “hỗ trợ” chuyên đề nghiên cứu, thực ra là để tập họp trí thức chống Chính phủ, chống Đảng. Kết quả là, một con người có quan điểm chệch hướng như 4Sang đã trở thành “minh chủ” của nhóm phản động Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định và Nguyễn Hữu Hiền. Nguyễn Hữu Hiền vốn là một phần tử tha hoá đã kết nối Trương Tấn Sang với bọn phản động Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định. Trương Tấn Sang đã từng yêu cầu bằng văn bản đưa Nguyễn Hữu Hiền làm Cục trưởng Bộ Bưu Chính Viễn Thông để phụ trách các đề án lớn của ngân hàng thế giới (WB). Toàn bộ nhóm Nguyễn Hữu Hiền, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định tôn xưng: “Trương Tấn Sang là Boris Yeltsin của Việt Nam”, “là minh chủ của thời đại” và được nhóm này coi là ngọn cờ, là minh chủ để chuẩn bị lật đổ chính quyền cách mạng. Kết quả là, Nguyễn Hữu Hiền bị dính vào vụ án “âm mưu lật đỗ chính quyền cách mạng”. Lê Công Định và Trần Huỳnh Duy Thức vào tù, Hiền được 4Sang can thiệp nên chỉ bị “xử lý hành chính nghiêm khắc” và được 4Sang quyết liệt bảo vệ nên Hiền chỉ bị cách chức giám đốc mà không bị khai trừ Đảng.

Tóm lại Trương Tấn Sang là chủ mưu của việc tấn công nã pháo vào Thủ tướng từ thời ông Phan Văn Khải đến nay, là người đứng ra tập họp một số tay chân là loại bất mãn và một số doanh nghiệp giàu có để lập ra cái nhóm lợi ích gây rối nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, là lãnh tụ của phe đảng phục tùng mệnh lệnh của Trung Quốc tấn công Chính phủ nhằm lật đổ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

(Còn tiếp)
phần 3:
http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/truong-tan-sang-iem-sup-o-cua-ang-cong_6093.html

Trương Tấn Sang: 'Điểm sụp đổ của Đảng Cộng sản Việt Nam' (phần 1)


Thiếu bản lĩnh chính trị, sớm đầu hàng địch

Năm 1971, từ khi còn là một du kích 22 tuổi, Trương Tấn Sang đã bị địch bắt ở Đức Hoà và đưa ra giam ở Phú Quốc. Theo điều tra của Tổng cục II, Bộ Quốc Phòng thì Sang bị giam chung và kết giao thân mật với một điệp viên Trung Quốc hoạt động ở Chợ Lớn. Trong tù bị tra tấn, Sang không chịu đựng được đã khai báo và quy hàng Mỹ. Năm 1973, Sang được trao trả và được đưa ra miền Bắc, người bạn tù về Trung Quốc trở thành một tướng tình báo, được cử giữ nhiều chức vụ quan trọng của Quân đội Trung Quốc và vẫn “liên lạc đặc biệt” với Trương Tấn Sang cho đến hiện nay. Đây chính là đầu mối để Trung Quốc khai thác và khống chế Trương Tấn Sang bằng tiền và quyền lực.



Việc Trương Tấn Sang khai báo và cộng tác với Mỹ, sau này Tổng cục II đã có báo cáo gửi đến các ông Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu, Phan Văn Khải, … nhưng vẫn chưa bị đem ra xem xét vì lúc đó Trương Tấn Sang đã bị kỷ luật và chuẩn bị cho ra khỏi Bộ Chính trị về các sai phạm tại TPHCM.

Tham nhũng, lộng quyền và suy đồi đạo đức nghiêm trọng dẫn đến mất chức Bí thư Thành Uỷ TPHCM

Trong suốt quá trình công tác, đặc biệt là từ giai đoạn bắt đầu làm Bí thư Thành uỷ TPHCM (1997-1999), Trương Tấn Sang đã thể hiện nhiều bản chất xấu xa khi mới chỉ nắm quyền hành ở cấp địa phương. Tội lỗi lớn nhất của 4Sang giai đoạn này là vụ bao che cho Năm Cam, vụ nhận hối lộ 500 cây vàng để bao che vụ buôn lậu cực lớn của một con buôn người Hoa và vụ trực tiếp hiếp dâm, ra lệnh cho công an bắt bỏ tù và trù dập hai vợ chồng chị Võ Thị Thu Hồng – Giám đốc Công ty Xuất Nhập Khẩu Quận 3. 4Sang đã trở thành Bí thư Thành uỷ bị kỷ luật nghiêm trọng nhất TPHCM các thời kỳ, nên bị Bộ chính trị cắt chức đưa ra Hà Nội để chuẩn bị kỷ luật và đưa ra khỏi Bộ Chính Trị.

Phục vụ nhóm lợi ích Tân Tạo-SGI, đứng sau Quan Làm Báo chống Đảng phá nước

Sau thời gian bị cho ngồi chơi xơi nước ở Ban kinh tế của TW, năm 2006 làm Thường trực Ban bí thư và ngay lập tức có những hành động phục vụ nhóm lợi ích Tân Tạo-SGI: thứ nhất là đỡ đầu và can thiệp cho Đặng Thị Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm thoát nạn khi vụ án ABB bị khởi tố; thứ hai là 4Sang can thiệp để Yến có hộ chiếu công vụ để Yến trốn ra nước ngoài. Chính 4Sang đã can thiệp để có tấm hộ chiếu này. Cũng chính 4Sang là người bày kế để Yến gấp rút ly dị chồng (quốc tịch Mỹ) để đưa Yến và cả Tâm vào Quốc Hội.

Năm 2000, đứng trước nguy cơ 4Sang sẽ bị mất hết tất cả, nhóm lợi ích Tân Tạo-SGI đã mạnh tay chi hàng trăm tỷ để chạy tội, mua chức còn phía Trung Quốc thì vận động, bao che và công khai ủng hộ để bảo vệ nên Trương Tấn Sang chỉ bị kỷ luật khiển trách rồi nắm chức Trưởng ban kinh tế Trung Ương, Thường trực Ban bí thư sau đó leo lên rồi Chủ tịch nước. Có một việc rất đáng lưu ý là khi vừa leo lên vị trí Thường trực Ban bí thư, theo ý đồ của Trung Quốc 4Sang đã quyết liệt đề nghị bỏ Ban ban kinh tế Trung Ương để cách ly Đảng về mặt kinh tế, phá Đảng từ bên trong để sau đó phá kinh tế bên Chính phủ để gây nên xáo trộn kinh tế Việt Nam nhằm tạo cơ hội cho 4Sang lên nắm quyền.

Vốn đã lún sâu và đã ra mặt giúp Yến và Tâm làm giàu bất chính từ thời ở TPHCM thông qua các thủ đoạn cướp đất bồi hoàn với giá rẻ mạt, chiếm dụng vốn của Quỹ hỗ trợ phát triển đô thị TPHCM, kê khống giá trị tài sản thế chấp để rút tiền từ các ngân hàng, bơm giá trị và ép mua cổ phiếu,… 4Sang tiếp tục mang thêm món nợ “tái sinh” qua lần thoát án kỷ luật này và tiếp tục dấn sâu hơn vào các hoạt động phục vụ nhóm lợi ích Tân Tạo-SGI và đồng bọn.

Trên thực tế, 4Sang sử dụng quyền lực Chủ tịch nước, UVBCT để bảo vệ nhóm lợi ích này bằng mọi giá. Đến giờ các tướng quân đội vẫn còn bàn nhau về chuyện Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong cuộc họp Bộ chính trị đã tuyên bố “không tin vào Công an”. Lý do 4Sang tuyên bố như vậy là do Công an đang điều tra các hành vi vi phạm pháp luật tay chân của ông Tư Sang là Đặng Thị Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm. Cụ thể là điều tra ra Quan làm báo là của Đặng Thị Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm và phục kích bắt quả tang nhân viên của Đặng Thành Tâm đang thu lượm và bịa thông tin theo lệnh Tâm để gởi cho Yến đang ở Mỹ.

Trong thời gian trước khi đi dự APEC 2012 ở Nga với Chủ tịch nước, Đặng Thành Tâm đã rút ruột các ngân hàng gần 1000 tỷ để chuẩn bị bỏ trốn, số tiền này được chuyển thành hàng chục triệu USD mang theo trong hành lý của Chủ tịch nước trên chuyên cơ. Trong khi Tâm ở Nga, ở nhà Công an điều tra ra được Đặng Thị Hoàng Yến và Đặng Thành Tâm đứng sau Quan Làm Báo. Yến và Tâm đã phạm vào tội chống phá nhà nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tâm đã quyết định tháo chạy sang Hàn Quốc rồi từ Hàn Quốc sang Nhật, cả gia đình Tâm và Yến đã trốn ra nước ngoài để lại cục nợ xấu hàng chục ngàn tỷ đồng khổng lồ cho các ngân hàng ở Việt Nam.

Tâm tuyên bố với một vài người cùng đi trong đoàn: “Tâm ở lại chờ yên mới về, anh Tư đồng ý như vậy”, “Anh Tư bảo khoan về nước”, “chờ anh Tư về dẹp yên xong mới về nước”. Như vậy, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có trách nhiệm rất lớn trong việc giúp Đặng Thành Tâm bỏ trốn, đồng thời đã sống chết buộc Thủ tướng phải chịu kỷ luật và bị cắt chức để “dẹp yên” dọn đường cho Tâm và Yến trở về.

Chủ tịch nước 4Sang đã có công đầu rất lớn đưa Quan Làm Báo từ một blog tầm thường thành một trong các blog có lượt truy cập vài ba trăm ngàn lượt xem/ngày khi chủ động gọi điện thoại báo tin cho Tâm sau khi được nghe báo cáo kết quả bắt bầu Kiên để Quan Làm Báo đưa. Liên tục nhiều tháng sau đó, 4Sang tiếp tục trượt dài trong các hành vi phạm pháp, vi phạm nguyên tắc và điều lệ Đảng, 4Sang đã dùng quyền hành Chủ tịch nước để yêu cầu cung cấp, lợi dụng vị trí UVBCT để thu thập các tài liệu cần thiết và liên tục cung cấp thông tin từ BCT, các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam cho Quan Làm Báo viết bài xuyên tạc.

Nghiêm trọng hơn, 4Sang sau khi thất bại trong việc dàn xếp để kỷ luật Thủ tướng ở HNTW6 đã “cố đấm ăn xôi” cho tung “tờ trình TỐI MẬT số 73/TLHN ngày 11/10/2012 của Bộ Chính trị đề nghị Ban chấp hành Trung ương xem xét kỷ luật dưới hình thức khiển trách đối với đ/c Nguyễn Tấn Dũng” lên mạng và chỉ đạo Văn phòng Chủ tịch nước gửi về các Đảng bộ địa phương để bêu rếu Thủ tướng

Chưa hết, 4Sang với tư cách là Chủ tịch nước, là một UVBCT nhiều lần phát biểu và đưa ra các thông điệp vi phạm các nguyên tắc của Đảng nhằm tưng hứng cho Quan Làm Báo viết bài đánh phá Đảng, tấn công Chính phủ và xúc phạm các lãnh đạo của Việt Nam, đồng thời ra sức đánh bóng để chuẩn bị cho 4Sang lên làm Tổng bí thư kiêm Chủ tịch nước qua hàng loạt bài viết trên Quan Làm Báo kiểu như: “Chủ tịch nước có thực sự là Thiên tử?”

Như vậy, 4Sang chà đạp lên mọi nguyên tắc của Đảng, các quy định của Bộ chính trị và trách nhiệm của một Chủ tịch nước đã được Đảng và nhân dân giao phó để hỗ trợ đắc lực cho Yến và Tâm phát triển Quan Làm Báo trở thành một công cụ hiệu quả để nói xấu Đảng, bôi bẩn chế độ, xuyên tạc các hoạt động của BCT, các lãnh đạo Đảng và nhà nước, gây hoang mang và lan truyền tin đồn dẫn đến suy sụp hệ thống tài chính, ngân hàng và chứng khoán của Việt Nam, tạo điều kiện để các thế lực thù địch tiếp tục tuyên truyền, lôi kéo và tổ chức các hoạt động vô cùng nguy hiểm cho đất nước trong thời gian qua.

(Còn tiếp)
phần 2:
http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/truong-tan-sang-iem-sup-o-cua-ang-cong_20.html

Vì sao sắp có một liên minh chính trị ở Việt Nam? (tiếp theo và hết)


Tình trạng hiện nay là cái mà Trần Huỳnh Duy Thức đã dự báo chính xác nhiêu năm trước và khẳng định rằng đất nước này chỉ có một con đường duy nhất là phải hình thành được một lực lượng chính trị dân tộc yêu nước thì mới tránh được họa bị thôn tính. Lực lượng này phải là sự kết hợp, hòa hợp giữa những người Cộng sản và không Cộng sản, đặc biệt là phải có sự tham gia của những trí thức ưu tú không đảng phái. Anh Thức phân tích kỹ và nhấn mạnh rằng bất kỳ sự loại trừ nào dành cho Cộng sản hoặc không Cộng sản đều sẽ dẫn đến sự suy yếu và thất bại của cả dân tộc chứ không riêng một đảng phái hay ý thức hệ nào. Sau 4 năm bắt và cầm tù anh, các lãnh đạo trong Bộ Chính trị mới nhìn ra được thực tế hiện nay và thấy rằng không còn con đường nào khác. Trừ cánh bảo thủ và thần phục Đại Hán của Nguyễn Phú Trọng là còn tin rằng tự thân Đảng Cộng sản Việt Nam có thể chỉnh đốn được. Nhưng các ông Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng có cách tiếp cận về việc hình thành liên minh chính trị khác nhau và đang chạy đua để giành lợi thế.



Chủ tịch nước tặng quà tại Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng. Ảnh: Thanh Niên
Chủ Tịch Nước vừa truy tặng huân chương Sao Vàng cho cụ Huỳnh Thúc Kháng – một biểu tượng của nhân sĩ trí thức ưu tú không đảng phái nhưng ủng hộ và liên minh với Đảng Cộng sản trong Quốc hội và Chính phủ. Cụ đã mất 66 năm rồi, giá trị gì khiến người ta trao tặng loại huân chương cao quý nhất của chế độ cho cụ vào lúc này? Trong bài phát biểu biểu dương cụ, ông Sang đã nhắc lại công ơn của cụ trong việc cùng với cụ Phan Chu Trinh khởi xướng phong trào Duy Tân vì quyền con người với phương châm "Khai dân trí, Chấn dân khí, Hậu dân sinh" - một triết lý được tiếp nối và phát triển bởi phong trào Con đường Việt Nam ngày nay. Trong hai ba tháng qua, ông Sang cũng thể hiện những quan điểm tiến bộ trong việc sửa Hiến pháp thông qua những buổi nói chuyện với các nhóm nhân sĩ, giới trí thức. Nhưng bộ máy tuyên truyền của Đảng đã không đứng về phía ông. Còn an ninh thì làm mọi cách ngăn cản những quan điểm này tiếp cận được với quảng đại quần chúng. Ông Trương Tấn Sang muốn quyền lực của Chủ Tịch Nước được tăng lên mạnh sau lần sửa đổi hiến pháp này, đồng thời mở rộng Quốc hội cũng như Chính phủ cho những nhân sĩ trí thức ngoài Đảng tham gia rộng rãi. Ông tin rằng cách này sẽ giúp ông và những người cộng sản cấp tiến kiểm soát được Đảng Cộng sản Việt Nam và tạo thành liên minh với các thành phần phi đảng phái. Nhờ vậy sẽ loại bỏ được các lực lượng cơ hội, thoái hóa trong Đảng. Có vẻ như ông đang đi theo sách lược của Hồ Chí Minh thời mới lập chính quyền, tạo ra một Chủ Tịch Nước có thực quyền và một liên minh dân tộc theo kiểu Việt Minh. Dù có được uy tín cá nhân cao hơn hẳn các ủy viên Bộ Chính trị khác, nhưng lại không có được những lực lượng cụ thể trong tay nên con đường của Trương Tấn Sang đang diễn ra rất khó khăn. Đáng tiếc là ông vẫn chưa biết dựa vào nhân dân để tạo nên sức mạnh.

Trong khi đó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại tỏ ra là kẻ thức thời, biết lợi dụng sức mạnh của nhân dân. Sau lần thoát hiểm ở hội nghị trung ương 6, ông đã hiểu rất rõ rằng cuộc chiến trong nội bộ Đảng sẽ là một mất một còn đối với ông. Còn đối với nhân dân, ông đã không còn chút uy tín nào và bị oan thán đến tột cùng. Nguyễn Tấn Dũng có vẻ đã nhận ra rằng con đường sống duy nhất và an toàn lâu dài cho ông và gia đình là phải biết “dựa vào dân”. Trong cuộc tranh đấu giữa lề dân và lề đảng về sửa đổi hiến pháp, Nguyễn Tấn Dũng đã hoàn toàn đứng ngoài. Nếu trước đây vài tháng ông là mục tiêu công phá chính của báo lề dân khi hội nghị trung ương 6 đang diễn ra thì lần này Nguyễn Phú Trọng đã tự thế vào chỗ này. Trong lúc đó Nguyễn Tấn Dũng bình yên để chỉ đạo những thay đổi nhằm lấy lòng dân ở những chỗ gây nhiều bức xúc như phạt xe không chính chủ hay bãi bỏ việc ghi tên cha mẹ trong chứng minh thư. Dù không có khả năng để vực dậy được nền kinh tế nhưng ông dồn hết mọi nguồn lực có thể để làm cho nó không bị sụp đổ nghiêm trọng trong năm nay. Cách thức này kéo dài sẽ gây ra những hệ lụy ghê gớm nhưng ông không còn cách nào khác. Nguyễn Tấn Dũng cần một khoảng thời gian không dậy sóng. Đối với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyễn Tấn Dũng cũng thừa hiểu rằng nó đã và sẽ không còn là tấm bình phong an toàn cho ông và phe cánh thân hữu. Bản tính cơ hội làm cho lực lượng này thực chất chẳng bị ràng buộc tình cảm gì với ý thức hệ cộng sản của Mác – Lê Nin hay mỹ từ xã hội chủ nghĩa. Tất cả chỉ là những tấm bình phong sẵn sàng bị vứt bỏ và thay thế khi không còn hữu dụng với cá nhân nữa. Nếu không thể trở thành tổng thống trong một thiết chế dân chủ cộng hòa thì tối thiểu cũng phải được ghi công to lớn trong cuộc “chuyển đổi vĩ đại” này để được nhân dân bỏ qua cho những sai trái tội lỗi là mục tiêu chiến lược mà Nguyễn Tấn Dũng đang hướng đến.

Cơ hội đến với Nguyễn Tấn Dũng khi phong trào đòi Quyền Con Người và ý thức làm chủ đất nước của nhân dân đang liên tục dâng cao. Đặc biệt trong việc đòi quyền phúc quyết và xóa bỏ điều 4 hiến pháp vừa rồi. Thật bất ngờ, khi các tuyên truyền viên được trang bị những bằng cấp, học hàm tiến sĩ, giáo sư cùng với rất nhiều phát thanh viên, biên tập viên truyền hình, truyền thanh xinh đẹp đang mở hết công suất cổ súy cho những giáo điều của Nguyễn Phú Trọng thì Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo Chính phủ đưa ra thông điệp: Quyền lập hiến thuộc về nhân dân. Đơn giản nhưng lại phủ định tất cả giáo điều sai trái trên. Trong bài viết “Thời cơ quyết định đã đến” tôi đã phân tích răng sự tập trung vào mục tiêu Quyền Con Người và đòi hỏi quyền phúc quyết hiến pháp là giải pháp chiến lược trong giai đoạn hiện nay. Tiếc rằng rất ít các tổ chức đấu tranh dân chủ quan tâm đến chiến lược này. Trong khi đó Nguyễn Tấn Dũng đã khai thác nó rất tốt. Dù uy tín đã xuống rất thấp nhưng vẫn còn chi phối được nhiều lực lượng sức mạnh nên Nguyễn Tấn Dũng đã nhanh chóng ngăn chặn được xu hướng áp đặt sai trái lên hiến pháp của Nguyễn Phú Trọng và Nguyễn Sinh Hùng. Nhưng thực ra, Nguyễn Tấn Dũng làm được là nhờ đã nương theo được xu thế và sức mạnh của sự hợp lòng dân về hiến pháp. Trong khi những ông trùm giáo điều bảo thủ đang hí hửng với hàng "chục triệu ý kiến đồng ý của nhân dân" về bản dự thảo hiến pháp của Đảng thì một làn sóng ngầm nổi lên mạnh mẽ từ những cuộc họp chi bộ phường, xã, khu phố thể hiện sự bất mãn vì hành động coi thường nhân dân trong cách thu thập "ý kiến đồng ý" như vậy. Thái độ này làm cho lực lượng Nguyễn Phú Trọng choáng váng. Trong khi đó những quan điểm bị lực lượng này cho là sai trái thì lại đang được tiếp thu để điều chỉnh ra một bản dự thảo mới. Điều 4 cũng sẽ bị thay đổi. Hội nghị trung ương 7 sẽ quyết định vấn đề này vào đầu tháng 5. Lần đầu tiên có sự bất đồng thuận giữa các phe cánh trong Đảng Cộng sản Việt Nam về điều 4 nói riêng và cả Hiến pháp nói chung. Mà lại chia rẽ rất sâu sắc. Việc đổi tên nước không chỉ đơn giản là đổi tên. Nó có thể dẫn đến việc thay đổi chính thể theo kiểu của Hiến pháp 1946 hoặc một chế độ cộng hòa tổng thống theo ý muốn của các phe cánh. Điều 4 “thiêng liêng” của Đảng Cộng sản rất có thể sẽ phải thay đổi theo kiểu như Myanmar, duy trì một số đặc quyền nào đó cho Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng phải chấp nhận sự hoạt động hợp pháp của các chính đảng khác. Trương Tấn Sang hy vọng mô hình này sẽ trao cho ông ta chức Chủ Tịch Nước nó có đủ quyền lực để chi phối cả Đảng Cộng sản Việt Nam nhờ sự ủng hộ của các lực lượng phi đảng phái. Còn Nguyễn Tấn Dũng thì muốn trở thành một “Thein Sein” sau một cuộc bầu cử đa đảng đầu tiên. Nó sẽ được dàn xếp để đảm bảo thắng lợi cho một đảng mới là liên minh của các lực lượng trung thành vời Nguyễn Tấn Dũng trong Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay và những lực lượng mới ngoài đảng này. Nguyễn Tấn Dũng thừa hiểu bị dân oán thán đến thế nào, nên cho dù có thể hiện là người thúc đẩy cho những cải cách chính trị mạnh mẽ sắp tới thì ông ta cũng không thể tự bảo đảm cho mình một thắng lợi từ các lá phiếu của dân. Do vậy việc hình thành nên một liên minh như trên là rất thiết yếu đối với chiến lược của ông ta hiện nay. Sử dụng một số tù nhân chính trị nổi bật có thể tạo ra niềm tin và kỳ vọng mới từ nhân dân là sách lược mà Nguyễn Tấn Dũng và bộ sậu của ông đang tính tới. Đây chính là động lực thúc đẩy nối lại cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ. Giới hành pháp Mỹ lầu nay rất sốt ruột muốn tăng cường quan hệ với Việt Nam lên tầm đối tác chiến lược để thực hiện chiến lược đắp chặn (contaiment policy) Trung Quốc. Tuy nhiên họ không vượt qua được rào cản của giới lập pháp Mỹ về những thành tích nhân quyền yếu kém của Việt Nam. Hơn nữa bản thân Obama là một Tổng thống không dễ dàng hạ thấp tiêu chuẩn nhân quyền.

Do đó thả tù chính trị để chứng tỏ một biểu hiện rõ rệt về thiện chí cải thiện quyền tự do ngôn luận, tôn giáo ở Việt Nam là một đòi hỏi mạnh mẽ từ phía Mỹ đối với cuộc đối thoại nhân quyền. Điều này trước đây là rào cản nhưng bây giờ trở thành động lực của phe cánh Nguyễn Tấn Dũng cho nên nó đã trở thành kết quả của đối thoại nhân quyền Việt - Mỹ hôm 12/4 vừa rồi. Qua đó phía Việt Nam thừa nhận rằng Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích hơn khi thực hiện những cải thiện nhân quyền như nói trên, chứ không phải là tai hại. Phía Việt Nam cũng ghi nhận yêu cầu của phía Mỹ để trình lên các cấp cao hơn để có thể đi đến được những thoả thuận cam kết ở cấp cao nhất về chủ đề này. Nếu việc này diễn ra tốt đẹp thì tổng thống Obama sẽ tiếp đón Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Mỹ vào tháng 6 tới để nâng tầm đối tác chiến lược giữa 2 nước. Trước chuyến thăm (cũng có thể là sau) sẽ có một sự kiện thả các tù nhân chính trị rất ấn tượng ở Việt Nam. Trường hợp tù nhân chính trị nổi bật mà phía Mỹ đặt yêu cầu trả tự do với phía Việt Nam trong đối thoại nhân quyền vừa rồi chính là Trần Huỳnh Duy Thức. Trường hợp này được ủng hộ bởi cả giới hành pháp lẫn lập pháp Mỹ. Tuy nhiên đây cũng là trường hợp gặp nhiều trở ngại vì Việt Nam cho rằng Mỹ muốn thúc đẩy một hình ảnh đối lập mạnh. Tuy vậy cũng có những điểm thuận lợi vì Trần Huỳnh Duy Thức không tham gia đảng phái nào và uy tín của anh về sách lược kinh tế cũng như tư tưởng hòa hợp, không hận thù mà anh luôn hướng tới.

Phê duyệt hay bác bỏ thực hiện những yêu cầu về nhân quyền như trên sẽ là một nghị trình chính trong hội nghị trung ương 7 sắp tới. Nghị trình này sẽ dẫn tới hệ quả là việc quyết định xu thế cải cách chính trị ở Việt Nam từ nay đến 2016 (hết nhiệm kỳ khóa XI). Chính vì vậy mà hội nghị này đã bị trì hoãn đến tháng 5 này. Hiện nay sự chống đối duy nhất đối với xu thế này đến từ lực lượng bảo thủ của Nguyễn Phú Trọng. Nhưng nó đang trở nên lẻ loi và đuối sức sau những sai lầm ấu trĩ và coi thường dân chúng về góp ý sửa hiến pháp. Hơn nữa, dù không bắt tay nhau nhưng việc cùng “hướng đến quyền con người” của Trương Tấn Sang và Nguyễn Tấn Dũng đã tạo ra những lợi ích chung cho cả hai thế lực này. Việt Nam cũng sẽ đối diện với "thập diện mai phục" về nhân quyền từ cộng đồng quốc tế. Quốc hội Châu Âu đã ra nghị quyết. Sắp tới sẽ là Đức, Anh, Pháp gây sức ép mạnh mẽ. Trung Quốc vẫn còn cơ hội để phá bĩnh xu hướng này nhưng cách mà Đại Hán lâu nay dùng để khống chế Việt Nam cũng giống như cách khống chế của một tay đểu cáng đối với một cô gái đã có chồng nhưng ngoại tình với hắn và bị hắn quay phim sex. Do vậy nếu Trung Quốc làm quá thì sẽ dẫn đến sụp đổ cả Đảng Cộng sản Việt Nam. Mặt khác các hậu quả về kinh tế, quốc phòng khi lệ thuộc vào Trung Quốc là điều đã trở nên quá rõ ràng mà khó ai dám liều lĩnh bán mình vào lúc này. Một yếu tố rất quan trọng khác sẽ bảo đảm cho xu thế cải cách chính trị tích cực ở Việt Nam như nói trên chính là tính quy luật của sự phát triển. Trong nhiều bài viết, tài liệu nghiên cứu, sách của Trần Huỳnh Duy Thức, anh nhiều lần nhấn mạnh rằng trong những bối cảnh chính trị tương tự như Việt Nam hiện nay, sự thay đổi sẽ diễn biến rất nhanh một khi lực lượng cơ hội phá vỡ thế cân bằng trong nội bộ của một Đảng toàn trị (như Đảng Cộng sản Việt Nam hay Liên Xô trước đây). Nguyễn Tấn Dũng không những đã phá sự cân bằng này mà còn buộc phải ủng hộ cho một xu thế tiến bộ. Đương nhiên, chỉ có những người ngây thơ mới tin vào sự thực tâm của ông ta. Nhưng một điều chắc chắn rằng cho dù là giả tạo thì sự xoay cờ của ông ấy sẽ tạo nên một thế cuộc rất đặc biệt và sẽ xuất hiện thiên thời cho những người có khả năng tính những nước cờ dài nhiều bước vì lợi ích thật sự của dân tộc.

Từ 6 năm trước Trần Huỳnh Duy Thức đã dự đoán đúng hiện trạng bây giờ của đất nước, đồng thời đưa ra giải pháp như sau: "Trong tình trạng nguy cấp hiện nay, vẫn còn một ngõ hẹp duy nhất để thoát khỏi sự thôn tính. Dùng khủng hoảng để chống khủng hoảng; dùng biến để hóa biến; dùng kẻ cơ hội để chống tham nhũng; dùng tham nhũng để chống thôn tính. Muốn làm được như vậy phải có hiền tài, nếu không làm cho Quốc hội thực sự trở thành một nơi tập hợp các hiền tài để thúc đẩy ý chí dân tộc, phát triển trí tuệ của toàn dân thì cho dù chính quyền theo thể chế chính trị nào đi nữa thì đất nước đó cũng sẽ bị thôn tính. Càng không thể đóng cửa lại mà bảo vệ chủ quyền như nhà Nguyễn đã từng làm rồi chuốc lấy thất bại." (trích MỘT NĂM SAU ĐẠI HỘI X - CẢNH BÁO NHỮNG NGUY CƠ QUỐC GIA)

Trước đây đọc đoạn này thấy ấn tượng nhưng không hiểu được làm như thế nào. Giờ thì thấy rất rõ cuộc cờ đang diễn ra không thể chính xác hơn.

Sự chống phá của các lực lượng bảo thủ, phản động đi ngược lại xu thế tiến bộ có lợi cho đất nước chắc chắn sẽ còn rất lớn và vẫn còn có thể thành công trong ngắn hạn (Hội nghị trung ương 7). Nhưng chúng cũng chắn chắn sẽ thất bại mau chóng nếu như tất cả mọi lực lượng đấu tranh vì sự phát triển dân chủ, tiến bộ, thịnh vượng cho Việt Nam biết gác lại những khác biệt để cùng hướng đến một đích nhắm chiến lược chung là Quyền Con Người. Khi cần có thể sẵn sàng hợp tác với nhau để chiến thắng sự bảo thủ, trì trệ, phản động đi ngược lại lợi ích của dân tộc.

Thanh Hương