Showing posts with label ĐỀ CƯƠNG VIỆT NAM MỚI. Show all posts
Showing posts with label ĐỀ CƯƠNG VIỆT NAM MỚI. Show all posts

Monday, April 15, 2013

Phương án Chuyển thể Xã hội

Dân chủ hóa xã hội là một nhu cầu khẩn thiết của đất nước. Dân chủ cũng là yếu tố ắt có và đủ để Việt Nam có thể vượt ra khỏi tình trạng khủng hoảng mọi mặt hiện nay, để có thể phát triển được một cách bình thường và nhanh chóng. Tuy nhiên, nhân dân ta đã gánh chịu quá nhiều đau khổ, từ thời còn chiến tranh cho đến nay. Do đó, dù triệu triệu người đang chán ghét sự tham nhũng, độc tài nhưng chúng ta không thể tiếp tục đánh đổi máu và nước mắt để được có Dân Chủ.

Việt Nam nhất quyết phải được dân chủ hoá nhưng tiến trình đó phải được thực hiện bằng sự sáng suốt, bao dung và khôn khéo. Mục tiêu đấu tranh trước mắt là nhằm chấm dứt tình trạng độc tài, chứ không phải là tiêu diệt một đảng cầm quyền để dựng nên một đảng cầm quyền khác.

Với chủ trương đó, Việt Nam cần có một Phương Án Chuyển Thể Xã Hội hợp lý để tiến trình tháo gỡ chế độ độc tài chuyển sang thể chế dân chủ sẽ KHÔNG gây ra những đổ vở đáng tiếc. Quan trọng hơn nữa, nó phải bảo đảm rằng nền an ninh quốc gia sẽ luôn được bảo đảm, sinh hoạt kinh tế sẽ không bị trở ngại, quan hệ ngoại giao và thương mãi với quốc tế sẽ không bị trục trặc, và đời sống của quần chúng sẽ không bị xáo trộn.

MỘT SỐ TRỌNG ĐIỂM CẦN ĐƯỢC QUAN TÂM THỰC HIỆN

Chuyển Thể Bộ Máy Nhà Nước: Giải thể tức thời cơ chế "Chính Uỷ" của đảng VNCS trong toàn bộ cơ quan nhà nước, kể cả quân đội, cảnh sát, công an, v.v.. Toàn bộ guồng máy nhà nước phải được đặt dưới sự điều hành của chính phủ mới -- một cơ chế đa thành phần. Sự chuyển thể guồng máy nhà nước là yếu tố cơ bản để thực thi dân chủ từ guồng máy điều hành quốc gia.

Lưu dụng thành phần quân cán chính chuyên ngành: Ngoại trừ một số bộ phận nhân sự cần được tái phối trí tức thời để bảo đảm an ninh cho chính phủ mới, thành phần quân nhân, cảnh sát, công an, công chức các ngành, các cấp nên được cứu xét cho tiếp tục phục vụ nhà nước, để bảo đảm sự liên tục trong việc bảo vệ lãnh thổ, điều hành guồng máy chánh quyền các cấp và an ninh xã hội.

Bảo đảm sự sinh hoạt liên tục của xã hội: Tiến trình dân chủ hóa đất nước phải bảo đảm sự sinh hoạt của xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp, và chứng minh được khả năng làm tốt hơn xã hội ngay sau đó. Mọi sự thay đổi không có nhu cầu khẩn thiết phải dành ưu tiên cho những chương trình thanh lọc và cải tiến sinh hoạt xã hội.

Phương Án Chuyển Thể Xã Hội của Chúng ta nhằm góp phần tạo điều kiện cho tiến trình chuyển tiếp chế độ được tốt đẹp trong tinh thần nhân bản; giúp cho sự sinh hoạt và phát triển của xã hội được liên tục. Trong cương vị của một chính đảng, Các Đảng phái tại Việt Nam sẽ cần phải cố gắng đấu tranh, hoặc vận động, yểm trợ chính quyền mới thực hiện các yêu cầu quan trọng sau đây, tuỳ theo vị trí và điều kiện thực tế có được. Những trọng điểm này sẽ được tiếp tục cập nhật tuỳ theo tình hình và nhu cầu thực tế của đất nước.

Trả tự do hoàn toàn và tức thời cho tất cả tù nhân chánh trị đang bị giam cầm hay quản chế dưới mọi hình thức.

Huỷ bỏ ngay các hình thức sắc luật mang nội dung đàn áp tôn giáo và chánh trị do nhà nước CHXHCNVN ban hành.

Nghiêm cấm và nghiêm trị các hành động trả thù, báo oán hoặc những hành vi cố tình làm xáo trộn xã hội.

Tái tổ chức và lưu dụng nhân sự thích hợp cho bộ máy Hành chính, Quân đội và Công an để sớm ổn định chính quyền.

Chỉnh trang nghĩa trang quân đội cho tử sĩ thuộc cả hai chế độ VNCH và VNCS. Thiết lập bia tưởng niệm, với tên tuổi và cấp bậc, cho toàn bộ quân nhân các cấp đã hy sinh trong các cuộc chiến kể từ năm 1954 đến ngày Việt Nam có dân chủ.

Tạo môi trường và điều kiện đóng góp tốt cho thành phần trí thức và mọi giới truyền thông để thu hút chất xám từ nhân dân; đồng thời xây dựng một hình thức ghi nhận các ý kiến đóng góp khách quan từ quần chúng để hoàn chỉnh liên tục các chính sách đối nội và đối ngoại.

Thực hiện hệ thống thông tin công cộng trên toàn lãnh thổ để tạo điều kiện phổ biến các chương trình thông tin, giáo dục đến toàn dân.

Có biện pháp ngăn cấm cấp thời các hình thức sinh hoạt có hình thái khiêu dâm, đồi truỵ, vong bản hay mang nội dung đi ngược lại bản sắc văn hoá truyền thống Việt Nam.

Phục hồi và phát triển các sinh hoạt văn hoá dân tộc.

Tái đào tạo và tu nghiệp hàng ngũ giảng dạy các cấp.

Soạn thảo chương trình giáo dục và phát hành sách giáo khoa mới, đáp ứng nhu cầu giáo dục của đất nước trong xã hội dân chủ.

Thực thi quyền tự do báo chí, ngôn luận. Tư hữu hóa toàn bộ cơ quan truyền thông, báo chí, truyền hình và truyền thanh.

Ưu tiên xây dựng thêm trường ốc, bệnh viện, bệnh xá để đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân.

Nâng đỡ một cách thiết thực cho đời sống của thành phần cảnh sát, quân nhân, công chức cấp thấp thuộc mọi ngành chánh quyền.

Hồi hương cấp thời số phụ nữ, trẻ em bị ép buộc hành nghề mãi dâm và có các chương trình trợ giúp đặc biệt để giúp thành phần này sớm phục hồi đời sống bình thường.

Nghiêm cấm và nghiêm trị các hoạt động mãi dâm trẻ vị thành niên và buôn người dưới mọi hình thức hay mức độ.

Chăm lo một cách nhân đạo cho tất cả gia đình cô nhi, quả phụ, thương phế binh, tử sĩ, không phân biệt chế độ phục vụ trước đây.

Cứu xét giảm khinh cho tất cả tù nhân đang thụ án để tạo cơ hội làm lại cuộc đời cho những người lỡ phạm tội lần đầu.

Công nhận và tưởng thưởng, cả tinh thần lẫn vật chất, cho tất cả những người đã có quá trình đấu tranh dân chủ hóa đất nước, dù còn sống hay đã hy sinh, không phân biệt tổ chức hay thành phần, ở trong và ngoài nước.

Đền bù xứng đáng cho những người, hay gia đình, đã thực sự có những đóng góp, hy sinh to lớn trong quá trình tranh đấu giành dân chủ, tự do, độc lập và thống nhất cho đất nước, kể cả thành phần thương phế binh, tử sĩ và gia đình; không phân biệt quá trình, xuất xứ, hay chế độ đã phục vụ.

Thực hiện chương trình trợ giúp đặc biệt cho các tập hợp đồng bào dân tộc bản địa và sắc tộc thiểu số.

Khuyến khích phát triển tối đa các Quỹ Phúc lợi xã hội nhằm tạo điều kiện nâng cao đời sống an sinh của tầng lớp nhân dân có thu nhập thấp.

Phối hợp với chánh quyền các nước lân bang để thiết lập các chánh sách yểm trợ cấp thời và đặc biệt cho số kiều bào sinh sống ở những nước này, kể cả việc hồi hương.

Tôn trọng tính chất và sinh hoạt của nền kinh tế thị trường, bảo vệ quyền sở hữu cá nhân, tự do kinh doanh trong khuôn khổ luật pháp.

Phục hồi công thổ, tài sản quốc gia đã bị tiếm dụng dưới mọi hình thức; cứu xét hoàn trả tài sản của các đoàn thể, cá nhân bị tịch thu hay ép buộc sung công sau tháng 04/1975.

Giải quyết cấp thời các trường hợp gây ô nhiễm môi sinh hay hủy hoại sinh thái. Thi hành luật bảo vệ môi sinh, đặc biệt là trong lãnh vực công kỹ nghệ.

Ưu đãi giới quân nhân, công chức và dân lao động nghèo; tăng lương bổng và quyền lợi đủ đảm bảo cuộc sống cho thành phần quân nhân và công chức.

Khuyến khích phát triển tối đa các Quỹ Phúc lợi xã hội nhằm tạo điều kiện nâng cao đời sống an sinh của tầng lớp nhân dân có thu nhập thấp.

Cấp thời vận động ngoại giao truy hồi phần lãnh hải và lãnh thổ đã bị chuyển nhượng bởi nhà nước CHXHCNVN; tái khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

Tái thẩm định các hiệp định, hiệp ước, văn kiện quốc tế đã được nhà nước CHXHCNVN ký kết, để tìm biện pháp thương lượng với các quốc gia liên hệ, hay vô hiệu hóa trong các trường hợp cần thiết.

Tình nguyện giải quyết tận gốc vấn đề MIA của Hoa Kỳ và các nước đồng minh một cách nhanh chóng và vô điều kiện.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan thiện nguyện nước ngoài (gồm cả cơ quan thiện nguyện của người Việt sống ở nước ngoài) vào Việt Nam để trực tiếp giúp đỡ các tầng lớp quần chúng cần những sự hỗ trợ cấp thời .

Sunday, April 14, 2013

Đại cương về Giải pháp #2

Giải Pháp #2 được dự trù cho trường hợp đảng VNCS bị mất quyền lãnh đạo bất ngờ bởi một biến cố chánh trị; và Việt Nam tất nhiên có nhu cầu thành hình một chánh quyền dân chủ mới một cách cấp thiết.

Chính phủ mới được thành hình xuyên qua hai giai đoạn kế tiếp nhau là Lâm thời và Tổng Tuyển Cử.

Do tính chất cấp thiết của tình hình, Giải Pháp #2 mang ba yêu cầu quan trọng như sau:

Phải ưu tiên bảo đảm tình hình an ninh quốc gia, sự liên tục của sinh hoạt xã hội và tiến trình phát triển kinh tế.

Phải có một chánh quyền lâm thời để điều hành quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp.

Phải có một kế hoạch tổ chức bầu cử các cơ chế lãnh đạo và điều hành quốc gia trong một thời hạn hợp lý.

Để thực thi ba yêu cầu quan trọng nêu trên, tiến trình thực thi Giải Pháp #2 của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam bao gồm một tiến trình xây dựng guồng máy chánh quyền mới có thể được dự phóng như sau:

Ổn Định Tình Hình:

Nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và duy trì sự sinh hoạt mọi mặt của xã hội, các tổ chức chánh trị có thực lực cần thỏa thuận cấp thời về chủ trương và nguyên tắc lãnh đạo quốc gia trong giai đoạn chuyển tiếp.

Trong tình hình này, các lực lượng quân đội, cảnh sát và công chức hành chánh cần được duy trì nhiệm vụ đang có; với một số sự tái phối trí cần thiết về thành phần chỉ huy cao cấp để bảo toàn cục diện. Nếu cần thiết, một lực lượng bảo an Liên Hiệp Quốc có thể được mời đến Việt Nam ngay để bảo đảm an ninh, trật tự, và giúp ngăn ngừa tình trạng khủng hoảng quân sự có thể xảy ra bất ngờ.

Xây Dựng Chánh Quyền Lâm Thời:

Đại diện các đoàn thể chánh trị có thực lực ở Việt Nam thống nhất về nguyên tắc lãnh đạo và điều hành quốc gia để thành hình cấp thời một cơ chế “Chánh Phủ Lâm Thời” trong giai đoạn chuyển tiếp.

Song song với việc tạm thời điều hành quốc gia, cơ chế này có trách nhiệm hậu thuẫn việc thành hình một cơ chế có tư cách, thẩm quyền soạn thảo một bản Hiến Pháp mới. Thời hạn và quyền hạn của cơ chế “Chánh Phủ Lâm Thời” sẽ được quy định bởi sự thoả thuận của các đoàn thể chánh trị có trách nhiệm.

Thành Hình Hiến Pháp Lâm Thời:

Tổ chức thành lập “Hội Đồng Lập Hiến” để soạn thảo bản Hiến Pháp lâm thời, có khả năng làm nền tảng pháp lý cho toàn bộ tiến trình dân chủ hoá và phát triển đất nước trong giai đoạn ổn định chánh trị (tối đa là ba năm).

Để giúp bảo đảm tính khách quan và hữu hiệu của bản Hiến Pháp Lâm Thời, một số chuyên viên thuộc các ngành công quyền quốc tế có thể được mời cộng tác với “Hội Đồng Lập Hiến” trong giai đoạn soạn thảo. “Hội Đồng Lập Hiến” sẽ tự giải tán sau khi bản Hiến Pháp Lâm Thời được chấp thuận. Để tránh sự thiên vị, các thành viên “Hội Đồng Lập Hiến” sẽ không được trở thành ứng cử viên trong cuộc Tổng Tuyển Cử ngay sau đó.Bản Hiến Pháp Quốc Gia sẽ Quốc Hội mới soạn thảo, hay tu chính từ bản Hiến Pháp Lâm Thời, ngay sau khi nhiệm chức.

Tổ chức Tuyển Cử Quốc Gia:

Căn cứ vào tinh thần bản Hiến Pháp Mới, Chánh Phủ Lâm Thời có trách nhiệm tiến hành cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do trên toàn quốc trong thời hạn được quy định.

Cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do cấp quốc gia sẽ được tổ chức để nhân dân bầu chọn thành phần lãnh đạo ba cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp; với sự giám sát của các cơ quan chuyên ngành nhân quyền và công pháp quốc tế. Sau khi thành phần nhân sự các cơ cấu tam quyền phân lập được bầu chọn, Chánh Phủ Lâm Thời sẽ chánh thức chuyển giao quyền lãnh đạo và điều hành quốc gia cho chính phủ dân cử mới.

Tổ Chức Bầu Cử Địa Phương:

Sau khi tổ chức Nội Các Chánh Phủ và tái phối trí các cơ cấu chánh quyền theo tinh thần bản Hiến Pháp Lâm Thời, Chánh Phủ Dân Cử sẽ tổ chức bầu cử các bộ phận điều hành cơ cấu chánh quyền cấp địa phương. Việc tổ chức bầu cử chánh quyền địa phương các cấp vừa tăng cường yêu tính dân chủ của thể chế mới, vừa tạo điều kiện thi đua phục vụ của đại diện các đoàn thể chánh trị trên toàn cõi đất nước.

Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam do vhung1 tôi đề xuất là một trong những giải pháp thích hợp và khả thi cần có để hóa giải các bế tắc chánh trị hiện có. Mục tiêu tối hậu của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam là một thế chế dân chủ đích thực, cần được giữ nguyên vẹn như là một tiền đề bất biến. Đảng Vì Dân quan niệm rằng, giải pháp nào cũng có thể được chấp nhận, nếu có thúc đẩy được tiến trình thực hiện. Mục tiêu chung là chấm dứt tình trạng độc tài toàn trị hiện nay, và thay vào đó một chánh quyền dân cử thực sự tự do, và được lãnh đạo bằng một quan niệm Dân Chủ Nhân Bản đúng nghĩa. Tiến trình này ngắn hay dài, tốt đẹp hay nhiễu nhương là do thiện chí của các lực lượng chánh trị và sự ý thức của đại đa số nhân dân.

Điểm tiên quyết là người dân Việt Nam phải có cơ hội thực thi quyền chủ thể xã hội của mình. Sự can dự của quốc tế là một điều không thể tránh khỏi và cũng rất là cần thiết, tuy nhiên, nó không thể là yếu tố chủ động.

Cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do sẽ có nhiều thử thách hết sức cam go nhưng đó là giải pháp thích hợp nhất để các thành phần dân tộc có cơ hội tham gia vào tiến trình dân chủ hóa và phát triển đất nước.

Quy trình thực hiện cuộc Tổng Tuyển cử sắp tới, biện pháp giải quyết các trở ngại, và quan trọng hơn cả là việc đưa giải pháp này trở thành một đề nghị khả thi được các khuynh hướng chánh trị có thực lực ở Việt Nam chấp nhận, kể cả đảng VNCS.

Mặt khác, nếu như tình hình Việt Nam có những đột biến chánh trị làm thay đổi toàn bộ cục diện, ngay cả việc đảng VNCS bị mất quyền lãnh đạo một cách bất ngờ bởi một cuộc binh biến hay đảo chánh, thì việc tổ chức Tổng Tuyển Cử vẫn cần được thực hiện với những yếu tố thực tế của hoàn cảnh mới.

Vấn đề tiên quyết được đặt ra là phải dành cho nhân dân Việt Nam những cơ hội để bầu chọn thành phần lãnh đạo quốc gia. Bởi lẽ đó, bất cứ sự thay đổi quyền lực đơn thuần nào chỉ nhằm thay thế sự độc quyền lãnh đạo của đảng VNCS bằng một đảng khác, hay một liên minh chánh trị khác, mà không chấp nhận việc tổ chức Tổng Tuyển Cử để thành hình một chánh quyền dân cử, cũng đều không thể chấp nhận được.

Đã đến lúc để người Việt Nam phải mạnh dạn tiến hành cuộc vận động thực thi dân chủ cho tương lai tươi sáng của một nước Việt Nam Mới thật sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Lộ trình này đưa ra như một dự hướng cho phong trào dân chủ hóa nước nhà. Nó không nhất thiết là phải diễn tiến theo trình tự đề nghị trên đây, mà tùy thuộc vào những chuyển biến thực tiễn tại Viêt Nam và trào lưu dân chủ của thế giới mà thay đổi cho phù hợp và kịp thời. Tuy nhiên, tổng tuyển cử quốc dân một cách bình đẳng và công minh là con đường tất yếu phải đi tơí để dân chủ hóa và canh tân đất nước và dân tộc.

Đại cương về Giải pháp #1

Giải Pháp #1 được dự trù cho trường hợp đảng VNCS vẫn nắm quyền lãnh đạo duy nhất, song đồng ý tương nhượng với các thành phần đối lập ở nội địa, và chấp nhận tiến trình dân chủ hoá đất nước qua cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do.

Giải Pháp #1 mang ba đặc tính tiêu biểu như sau:

Không dẫn đến sự khủng hoảng chánh trị, khả dĩ làm phương hại đến nền an ninh quốc gia;

Không gây ra những xáo trộn nghiêm trọng có thể làm suy yếu sinh hoạt xã hội;

Không gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của toàn dân.

Giải Pháp #1 của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam bao gồm bốn (4) điểm then chốt được đề nghị đưa ra để các phía liên hệ nghiên cứu và thương lượng, như sau:

Xây Dựng Giải Pháp Chánh Trị: Đại diện Bộ Chính Trị đảng VNCS cùng các nhân vật, đoàn thể chánh trị đối lập ở trong nước hội đàm và thương lượng về một số giải pháp chánh trị thích hợp cho Việt Nam.

Thành Hình Hiến Pháp Lâm Thời: Tổ chức bầu cử “Hội Đồng Lập Hiến” để soạn thảo bản Hiến Pháp Lâm thời, làm nền tảng pháp lý cho tiến trình dân chủ hoá và ổn định xã hội.

Tổ Chức Bầu Cử Địa Phương: Tổ chức bầu cử chánh quyền địa phương các cấp, theo tinh thần bản Hiến Pháp mới.

Tổ chức Tuyển Cử Quốc Gia: Tổ chức cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do cấp quốc gia, để bầu chọn thành phần lãnh đạo ba cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp; với sự giám sát của quốc tế.

Đại cương về mục đích, ý nghĩa và yêu cầu cơ bản của 4 điểm then chốt này là:

Điểm thứ 1: Xây Dựng Giải Pháp Chánh Trị

Đại diện Bộ Chính Trị đảng VNCS và các đoàn thể chánh trị đối lập ở trong nước chánh thức hội đàm và thương lượng về một số giải pháp chánh trị thích hợp cho Việt Nam trên căn bản bình đẳng và tương trọng. Mục đích chánh yếu của đợt thương thuyết đầu tiên là thỏa thuận các nguyên tắc tiến hành việc thành lập một “Hội Đồng Lập Hiến” với nhiệm vụ soạn thảo bản Hiến Pháp mới. Cùng lúc, nhà cầm quyền chấp nhận thực thi các quyền tự do cơ bản như đã được qui định trong bản Hiến Pháp hiện hành, và đồng thời ngưng thi hành các điều khoản, sắc luật, nghị định, v.v… đi ngược lại tinh thần bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Muốn có một cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do được tổ chức thành công, các yếu tố cần và đủ của nó phải được thỏa thuận một cách đầy đủ và nghiêm chỉnh giữa các đoàn thể chánh trị hiện hữu ở Việt Nam. Để hoá giải các trở ngại tâm lý và xây dựng môi trường đối thoại giữa đảng VNCS và các đoàn thể đối lập, đại diện các Tôn giáo ở Việt Nam có thể được uỷ nhiệm vai trò trung gian tạm thời trong giai đoạn thương thuyết sơ khởi.

Một số điều kiện cơ bản cần được thỏa mãn là nhà cầm quyền cần trả tự do ngay cho các tù nhân chánh trị, và chấm dứt sự đàn áp đối với những thành phần đối lập. Cùng lúc đó, các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, và tự do sinh hoạt chánh trị ở Việt Nam được tôn trọng thực sự; để sự vận động quần chúng của mọi đoàn thể được thực hiện một cách tự do và công bằng.Để hiện thực hoá điều này, các đoàn thể, phong trào đối lập ở Việt Nam, và phong trào yểm trợ dân chủ ở nước ngoài, cần phát động một cánh mạnh mẽ và đồng loạt các nỗ lực đòi hỏi thực thi dân chủ, để tạo một áp lực mạnh có khả năng buộc Bộ Chính Trị đảng VNCS phải tương nhượng và chấp nhận một tiến trình dân chủ hoá đất nước.

Khi thực hiện điều này, phía cầm quyền (đảng VNCS) và các thành phần đối lập cần chấp nhận đối thoại với nhau bằng tinh thần xây dựng và tương trọng, để tìm cách tháo gỡ một cách cụ thể và rốt ráo các bế tắc chánh trị hiện có. Thái độ và thiện chí của mỗi đoàn thể sẽ là yếu tố thực tế để nhân dân Việt Nam quyết định cho sự chọn lựa thành phần lãnh đạo và điều hành guồng máy quốc gia sắp tới.

Sau khi giai đoạn sơ thuyết được thực hiện tốt đẹp, vai trò vận động của Đại diện các tôn giáo xem như đã mãn nhiệm. Các tập hợp tôn giáo sẽ tiếp tục đóng góp vào tiến trình dân chủ hóa và phát triển đất nước một cách bình đẳng như các thành phần dân tộc khác.

Điểm Thứ 2: Thành Hình Hiến Pháp Lâm Thời

Tổ chức bầu cử cấp thời một "Hội Đồng Lập Hiến" với các Đại Biểu xuất phát từ nhiều đoàn thể chánh trị, xã hội khác nhau ở Việt Nam.

Nhiệm vụ của "Hội Đồng Lập Hiến" là soạn thảo một bản Hiến Pháp lâm thời, có nội dung đáp ứng được các nhu cầu cấp thiết của xã hội, và đồng thời là văn kiện căn bản cho bản Hiến Pháp Quốc Gia sẽ được soạn thảo sau khi Việt Nam đã có được một Quốc Hội dân cử mới .

Mục đích chánh yếu của giai đoạn này là thành hình một bản Hiến Pháp có khả năng làm nền tảng pháp lý cho tiến trình dân chủ hoá và ổn định xã hội Việt Nam.

Muốn xây dựng một xã hội dân chủ có nền tảng thì phải có một bản Hiến Pháp với các qui định thật rõ ràng về mô thức tổ chức guồng máy lãnh đạo quốc gia, các cơ chế điều hành xã hội, các đường lối đối nội và đối ngoại căn bản, quyền hạn và trách nhiệm đóng góp của các đoàn thể trong xã hội, và đặc biệt là nghĩa vụ cũng như quyền lợi thực tiễn của mọi công dân.

“Hội Đồng Lập Hiến” bao gồm các Đại Biểu địa phương, Đại Diện các tôn giáo và Đại Diện cộng đồng hải ngoại cần được thiết lập cấp thời để soạn bản Hiến Pháp lâm thời hoặc Tu Chính Án cho bản Hiến Pháp hiện hành; trước khi ba cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp chánh thức được thành hình qua cuộc Tổng Tuyển Cử Quốc Gia.

Đây là một điều kiện cần và đủ để tiến trình dân chủ hoá đất nước có thể được thực hiện một cách ôn hòa, nhanh chóng và tốt đẹp.

Từ quan niệm đó, tiến trình dân chủ hóa và phát triển đất nước cần có một bản Hiến Pháp mới đáp ứng được những yêu cầu trọng đại của đất nước trong giai đoạn chuyển mình này, và các nhu cầu lớn của toàn xã hội trong hiện tại cũng như tương lai.

Điểm thứ 3: Tổ Chức Bầu Cử Địa Phương

Tổ chức bầu cử chánh quyền địa phương các cấp theo tinh thần bản Hiến Pháp lâm thời, làm nền tảng cho guồng máy chánh quyền quốc gia sau đó.

Mục đích của cuộc bầu cử này là tái tổ chức guồng máy chánh quyền địa phương (cấp xã, quận và tỉnh) nhằm xây dựng nền tảng cho một thể chế dân chủ, với một guồng máy chánh quyền dân cử được xây dựng từ đơn vị hành chánh cơ bản là cấp xã đến cấp trung ương.

Trong giai đoạn tổ chức các cuộc bầu cử tự do, bao gồm cuộc bầu cử chánh quyền địa phương và cuộc Tổng Tuyển Cử quốc gia, vai trò của các tổ chức nhân quyền, chuyên ngành công quyền của quốc tế cũng như Việt Nam, là giám sát các cuộc bầu cử để bảo đảm cho tính trung thực, khách quan và công bằng trong toàn bộ tiến trình.

Điểm thứ 4: Tổ chức Tổng Tuyển Cử Quốc gia

Tổ chức các cuộc bầu phiếu tự do để nhân dân Việt Nam chọn lựa các thành phần lãnh đạo của ba cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp, Tư Pháp.

Mục đích chánh yếu của giai đoạn này tạo các điều kiện thuận lợi để toàn dân Việt Nam có cơ hội thể hiện nguyện vọng của mình xuyên qua lá phiếu để bầu chọn ba cơ chế quốc gia cũng như bầu phiếu tín nhiệm thành phần nhân sự điều hành guồng máy chánh phủ. Đây cũng là một hình thức phân quyền cụ thể để tất cả lực lượng chánh trị có cơ hội tiến cử người tham gia vào guồng máy lãnh đạo và điều hành chánh quyền ở các ngành và các cấp.

Mục đích chánh yếu của giai đoạn này là vận động sự tham gia hậu thuẫn của cộng đồng thế giới vào tiến trình dân chủ hóa Việt Nam. Sự hiện diện của đại diện các cơ quan nhân quyền này cùng với các tổ chức phi chính phủ quốc tế sẽ là yếu tố lớn xây dựng niềm tin cho các phía liên hệ cũng như nhân dân Việt Nam, về sự khách quan và công bằng của các cuộc bầu cử. Yếu tố này đồng thời cũng sẽ là nền tảng cần có để giúp Việt Nam vận động được sự yểm trợ của quốc tế trong tiến trình tái thiết và phát triển Việt Nam.

Tổ chức Tổng Tuyển Cử Quốc Gia để toàn dân bầu chọn các thành phần lãnh đạo của ba cơ chế Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp là con đường dân chủ hóa và phát triển Việt Nam tốt nhất. Đây cũng là dịp để người dân quyết định về tinh thần bản Hiến Pháp lâm thời, các chánh sách quan trọng của quốc gia, cũng như thể hiện ý nguyện về một mô thức tổ chức, xây dựng xã hội mới.

***

Các điểm được đề nghị hoàn toàn mang tính gợi ý để thảo luận. Nội dung giải pháp chánh thức sau này sẽ do chính những thành phần được đề cử soạn thảo quyết định.

Lộ trình Dân chủ hoá Việt Nam

Quan Niệm về Ý Nghĩa và Vai Trò Dân Chủ

Dân Chủ là một quan niệm tổ chức xã hội có khả năng đáp ứng nguyện vọng của đại đa số nhân dân, và ngăn ngừa những khuynh hướng lạm dụng quyền thế, bạo lực hay chuyên chế lãnh đạo, của một cá nhân, một đảng phái, hay một thế lực liên kết chánh trị.
Dưới thể chế dân chủ, người dân thực sự có quyền góp phần lãnh đạo quốc gia, cụ thể như bầu phiếu cho nội dung Hiến Pháp, chọn lựa thành phần lãnh đạo chánh quyền các ngành, các cấp trong cả ba cơ chế hiến định: Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp. Đồng thời, người dân còn được quyền góp phần quyết định về những chánh sách có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hay sự sống của chính mình ở mỗi giai đoạn, hay khi có nhu cầu.

Mặt khác, Dân Chủ là một mô thức tạo nên sự thi đua làm tốt hơn, giữa những đoàn thể muốn được quần chúng tín nhiệm bầu phiếu cho thành viên của họ vào những chức vụ dân cử quan trọng. Hơn nữa, nó gạn lọc và đào thải một cách tự nhiên những thành phần, hay khuynh hướng, không còn thích hợp với nhu cầu xã hội và nguyện vọng của người dân.

Đối với Việt Nam, ý niệm Dân Chủ đã hiện diện trong chánh sử Việt từ hàng ngàn năm trước và tiềm tàng trong ý thức của nhiều tầng lớp xã hội, cụ thể nhất là truyền thống xã thôn tự trị qua nhiều triều đại. Ý niệm dân chủ đó được người Việt Nam ta ví qua câu "phép vua thua lệ làng". Kể từ đầu thế kỷ 20, qua kinh nghiệm tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nguồn tư tưởng dân chủ dân tộc đã tiếp nhận thêm ý niệm dân chủ Tây Phương, tạo thành một quan niệm Dân Chủ mới. Theo đó, thích hợp nhất với bản sắc văn hóa Việt Nam là quan niệm Dân Chủ Nhân Bản.

Dân Chủ Nhân Bản là một quan niệm điều hướng xã hội, theo đó, ý kiến của đa số được tôn trọng; song mục tiêu cuối cùng của tất cả mọi nỗ lực xây dựng xã hội là phải nhằm phục vụ con người; vì con người là bản thể và cũng là chủ thể của xã hội. Nói cách khác, quan niệm Dân Chủ Nhân Bản không chấp nhận các quan niệm chánh trị nhằm biến con người thành một công cụ để đạt đến những kết quả đi ngược lại với tinh thần nhân quyền và dân quyền.



Nguyên Lý Xây Dựng Dân Chủ cho Việt Nam

Dân Chủ không thể tự nhiên mà có như là một món quà đặc biệt bất ngờ của các siêu cường; vì rõ ràng là, chánh sách đối ngoại của nước nào cũng phải nhằm phục vụ cho quyền lợi thực tiễn của quốc gia đó.

Dân Chủ sẽ không thể là một giải pháp tiền chế với sự tham dự của một số chánh trị gia sa-lông do ngoại bang áp đặt. Bởi lẽ, thứ nhất, dân chủ đến từ sự ban phát của người ngoại quốc sẽ không thể biểu hiện được tính tự quyết của một dân tộc; và thứ hai, bất cứ giải pháp nào do ngoại bang sắp đặt sẽ không thể phản ảnh được nguyện vọng và quyền lợi của nhân dân một nước.

Dân Chủ cũng không thể mặc nhiên được thành hình tốt đẹp và toàn hảo từ sự chấm dứt quyền lãnh đạo của một chế độ độc tài toàn trị. Bởi lẽ, sự độc tài đó vẫn có thể được tiếp nối bởi một sự độc tài khác, bởi tham vọng của một cá nhân, một đảng phái, hay cũng có thể là một liên minh chánh trị bao gồm nhiều cá nhân, tập hợp khác nhau, nhưng lại có một mục tiêu chung là chia sẻ quyền lực và quyền lợi riêng cho thiểu số đó.

Thực tế cho thấy rằng, trên thế giới ngày nay, có một số quốc gia không Cộng sản nhưng vẫn lâm vào cảnh độc tài chánh trị, khủng hoảng về xã hội và lạc hậu về mọi mặt. Vì vậy, sự sụp đổ, giải thể hay chuyển thể một chế độ độc tài sang đa đảng, chỉ đáp ứng yêu cầu đầu tiên của tiến trình dân chủ hóa là chấm dứt một trình trạng độc tài toàn trị.

Muốn có một nền dân chủ đích thực, chánh quyền đa thành phần phải được phối trí một cách khoa học để không có một cá nhân, đảng phái, hay thế lực liên kết chánh trị nào, có thể lạm dụng sự tín nhiệm của người dân cho các mục đích vụ lợi riêng tư. Nước Việt Nam Mới của chúng ta sắp tới sẽ rút tỉa kinh nghiệm của thế giới, để chọn cho quốc gia mình một mô thức tổ chức xã hội thích hợp hơn với hoàn cảnh của đất nước và bản sắc văn hóa của dân tộc.

Trong hoàn cảnh một xã hội đang có nhiều hiện tượng khủng hoảng lãnh đạo và niềm tin hiện nay như ở Việt Nam, một sinh hoạt chánh trị dân chủ, tự do là một nhu cầu không thể thiếu được. Tuy nhiên, nếu như nền dân chủ không được xây dựng bằng những kiến thức và quan niệm đúng đắn, nó sẽ gây ra nhiều biến chứng phức tạp và nguy hiểm cho chính nền dân chủ non yếu. Những người đấu tranh cho tự do, dân chủ cần ý thức được rằng, sự bầu cử tự do sẽ có thể bị lợi dụng một cách khéo léo để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo của một số đảng phái, liên minh chánh trị bất xứng. Do đó, dân chủ hóa Việt Nam là một khuynh hướng đúng và rất cần thiết nhưng sự cảnh giác và quyết tâm bảo vệ, chăm sóc cho nền dân chủ cũng quan trọng không kém gì nỗ lực giải thể, hay ngăn ngừa, một cơ chế lãnh đạo độc tài toàn trị (do một cá nhân hay đảng phái nắm quyền) hay độc tài tập trị (do một liên minh chánh trị nắm quyền).

Nền Dân Chủ nào cũng phải trải qua giai đoạn phôi thai, trưởng thành rồi mới phát triển từng bước vững mạnh được. Ngay cả những nước dân chủ ở Tây phương, người dân trong các xã hội tiền tiến này vẫn phải tiếp tục bồi đắp cho nền tảng dân chủ, phát triển dân chủ mỗi ngày một tốt đẹp hơn, đồng thời cũng cảnh giác trước những sự lạm dụng hoặc phá hoại dân chủ. Các nước tự do quí trọng dân chủ vì quan niệm phân quyền nhân bản này đã chứng tỏ được thực chất giá trị quý báu của nó, phản ảnh rõ ràng qua sự phát triển vững mạnh của xã hội từ bao nhiêu năm qua.

Đối với Việt Nam, mặc dù bối cảnh xã hội còn nhiều điểm phức tạp và tình trạng dân trí chưa được phát triển đồng đều, song trước khuynh hướng thế giới liên lập ngày nay, Việt Nam cũng cần phải nhanh chóng thực thi dân chủ để có thể tồn tại và thăng tiến hùng mạnh trong cộng đồng quốc tế. Xây dựng và phát triển dân chủ là xu hướng chung của thế giới, và một xã hội có dân chủ là nền tảng vững chắc để phục hồi nhân quyền, cải tiến dân sinh và phát triển xã hội. Việt Nam là một thành phần của cộng đồng thế giới, do đó, cũng không thể nằm ngoài xu hướng chung này. Người Việt Nam không có sự chọn lựa nào tốt hơn là chấp nhận một mô thức xây dựng dân chủ ngay từ thời điểm này nếu muốn Việt Nam sẽ được sống hùng cường trong một xã hội thực sự có tự do, dân chủ ở ngày mai.

Dân Chủ Hóa Xã Hội là một tiến trình nhằm thực hiện một cách tích cực quyền tự quyết và chủ quyền của người dân. Quyền làm chủ xã hội của người dân phải là một quyền hạn thực tế được Hiến Pháp nhìn nhận và đồng thời được chánh quyền tôn trọng tuyệt đối; chứ không thể chỉ là một sáo ngữ, hay một chiêu bài của nhà cầm quyền. Hơn nữa, vì nhân dân là bản thể và cũng là chủ thể của xã hội, nên Dân Chủ không phải chỉ là được quyền tự do bầu chọn người đại diện mình trong cơ cấu chánh quyền các cấp, mà còn bao gồm cả quyền được ứng cử góp phần lãnh đạo đất nước. Hơn lúc nào hết Việt Nam cần được dân chủ hoá, nhưng nền dân chủ mới phải do chính người Việt Nam thành hình và xây dựng, chứ không thể là một “sản phẩm tiền chế” của ngoại bang, cho dù đó là một siêu cường. Nó cũng không thể là một thứ dân chủ vá víu phát xuất từ sự nhượng bộ nhất thời của đảng cầm quyền độc tài trước một số áp lực nào đó từ các thế lực bên ngoài; hay là một sự trao đổi để trục lợi cho chế độ. Việt Nam cần phải được dân chủ hóa càng sớm càng tốt để chấm dứt tình trạng phát triển hỗn loạn, lạm dụng quyền thế, hối lộ tham ô và bất công xã hội. Công cuộc dân chủ hóa Việt Nam đã trở nên vô cùng cấp thiết, vì không những đó là chìa khóa hóa giải các vấn nạn đang có như tham ô, nhũng lạm, quan liêu, lạc hậu, khủng hoảng, v.v...., mà còn là phương thức tạo điều kiện để mọi thành phần dân tộc có cơ hội đóng góp cụ thể vào tiến trình xây dựng đất nước.


Một Phương thức Xây dựng Dân Chủ

Chiến tranh chắc chắn không thể là câu trả lời cho vấn đề Việt Nam, cho dù tình huống chánh trị có phức tạp, khó khăn đến đâu.

Một biến động chánh trị mang khuynh hướng bạo động có thể làm xoay chuyển thời cuộc một cách nhanh chóng nhưng đó vẫn là một điều nguy hiểm lớn. Bởi lẽ, một sự thay thế toàn bộ quyền lực lãnh đạo quá đột ngột và thiếu chuẩn bị chu đáo sẽ gây ra sự khủng hoảng dây chuyền ở nhiều mặt.

Đối với hoàn cảnh Việt Nam, sự sụp đổ đột ngột của chế độ Cộng sản có thể dẫn đến sự khủng hoảng lãnh đạo, hay tình trạng chánh quyền bị mất kiểm soát. Từ tình huống đó, các xu hướng xấu sẽ lợi dụng tình trạng đó để làm cho cục diện tồi tệ hơn nữa, nhằm mục đích phá hoại uy tín chánh quyền dân cử mới được thành lập.

Vì vậy, cho dù Việt Nam cần phải được dân chủ hoá càng sớm càng tốt, nhưng tiến trình thay đổi thành phần và guồng máy lãnh đạo cần được tổ chức một cách khoa học để tránh những hậu quả đáng tiếc, khả dĩ có thể dẫn đến những sự tiêu cực có thể làm phương hại đến tiến trình phát triển nền dân chủ mới.

Đấu tranh cho nhân quyền rất quan trọng trong mặt ngoại vận và cũng vô cùng cần thiết để tạo các áp lực chánh trị đối với chế độ. Tuy nhiên, nếu chỉ đòi hỏi nhà cầm quyền tôn trọng vấn đề nhân quyền một cách thuần tuý, thì ảnh hưởng có được cũng không thể giải quyết được tận gốc rễ các bế tắc đang có. Sự lên án hay kêu gọi chỉ có thể làm tiếng chuông cảnh tỉnh lương tâm thế giới và làm áp lực cho từng giai đoạn, nhưng sẽ không thể là một giải pháp mang tính chất quyết định cho sự thay đổi thể chế chánh trị ở một nước. Với sự ngoan cố của thành phần lãnh đạo bảo thủ, cực đoan hiện nay, nếu đảng VNCS chấp nhận đáp ứng phần nào đối với những lời kêu gọi tôn trọng nhân quyền, thì tình hình chỉ có thể đỡ tồi tệ hơn; song cốt lõi của vấn đề là, khi nào sự độc tài toàn trị vẫn còn hiện hữu thì một nguy cơ lớn cho tương lai toàn xã hội vẫn còn đó. Đấu tranh nhân quyền là một phương thức đóng vai trò quan trọng trong tiến trình giải thể một chế độ độc tài, song chưa thể có được yếu tố quyết định cho sự thay đổi cục diện.

Đối với những phương thức đấu tranh mang hình thức “tiệm tiến” khác, ảnh hưởng dĩ nhiên sẽ có nhưng thời gian tính lại là một vấn đề trở ngại lớn. Chủ trương dùng kinh tế hay ngoại giao để thúc đẩy sự đổi mới chánh trị không phải là vô hiệu, vì rõ ràng là Hoa Kỳ đang thực hiện sách lược này, nhưng đó là sách lược của một quốc gia có tầm vóc và đầy thế lực. Các sách lược này nằm trong chiến lược đường dài của Hoa Kỳ, và cũng nhằm đáp ứng các nhu cầu quyền lợi thực tiễn của Hoa Kỳ. Những nỗ lực thuộc dạng thức này mang yếu tính phụ thuộc. Nỗ lực đấu tranh trực diện của người Việt trong nước luôn đóng vai trò chủ lực.

Người Việt, ở cả trong ngoài ngoài nước, không có sự chọn lựa nào tốt hơn là phải chứng tỏ quyết tâm dân chủ hóa đất nước của mình trên tinh thần tự quyết của chính người Việt. Chính quyết tâm tự quyết của nhân dân Việt sẽ thuyết phục được sự hậu thuẫn tích cực của cộng đồng thế giới trong tiến trình dân chủ hóa Việt Nam.

Một khi chúng ta chứng tỏ được rằng sách lược dân chủ hóa Việt Nam bằng các giải pháp ôn hòa, thích hợp và khả thi để vừa không đi ngược lại chiến lược toàn cầu của các siêu cường, vừa có khả năng giúp thành hình một nền kinh tế liên lập với thế giới, lại vừa giúp ổn định tình hình an ninh quốc phòng chung cho toàn khu vực, thì chắc chắn là Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam sẽ được hậu thuẫn một cách đặc biệt.

Tóm lại, vấn đề không phải là phía quốc tế có yểm trợ cho giải pháp này hay lộ trình kia hay không, mà cốt lõi của vấn đề là nguyện vọng và quyết tâm của người Việt Nam có xứng đáng để cộng đồng thế giới xét thấy nên được hậu thuẫn hay không. Tương lai đất nước như thế nào tuỳ thuộc phần lớn vào thái độ của người Việt Nam ở khắp nơi trong giai đoạn trước mắt.
Trước tình hình chánh trị hiện nay, Chúng tôi nhận thấy rằng Tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do là một giải pháp chánh trị ôn hòa và thích hợp nhất cho bối cảnh xã hội Việt Nam trong thời gian sắp tới.

Hoàn cảnh lịch sử khắc khe đã làm cho nhân dân Việt Nam bị mất hai cơ hội Tổng Tuyển Cử quốc gia: một từ Hiệp Định Gevève, một từ Hiệp Định Paris. Đó là một điều đáng tiếc. Tuy nhiên, nó không có nghĩa là cơ hội đó đã mất hẳn. Lịch sử tuy đã sang trang nhưng cơ hội đó vẫn nằm trong tay người Việt Nam một khi người Việt Nam quyết tâm thực hiện quyền tự quyết dân tộc qua cuộc Tổng Tuyển cử tới đây.

Tổng Tuyển Cử Tự Do là giải pháp chánh trị thích hợp nhất vì nó sẽ dành những cơ hội tham gia lãnh đạo cho tất cả mọi phía liên hệ, và đó là cơ hội lớn nhất để toàn dân hành xử quyền làm chủ đất nước của mình một cách thực tế.

Tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do là một giải pháp chánh trị vừa thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, vừa không vô tình tạo cơ hội cho các thế lực ngoại bang lợi dụng tình hình mất ổn định chánh trị cho các mưu đồ xấu.

Với tính chất ôn hoà, hợp lý và hợp hiến, giải pháp tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do là tiến trình dân chủ hóa xã hội có thể giúp tránh được tình trạng khủng hoảng chánh trị, xã hội, kinh tế. Nó cũng là một giải pháp chánh trị ngăn ngừa được tình trạng rối loạn nhân tâm khi cơ chế lãnh đạo quốc gia được thay đổi. Cụ thể là giải pháp chánh trị này sẽ làm thay đổi bộ mặt guồng máy lãnh đạo quốc gia, song nó không đòi hỏi, hay dẫn đến, một sự thay đổi toàn bộ guồng máy chánh quyền đang có.

Chế độ độc tài toàn trị phải được chấm dứt để nhường chỗ cho một thể chế dân chủ mới. Tuy nhiên, guồng máy chánh quyền thì chỉ cần được thay đổi chứ không cần thay thế. Cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do sẽ đóng được vai trò gạn lọc và hoàn chỉnh này, để bảo đảm cho một sự chuyển-thể êm thắm và tốt đẹp. Mục đích chánh yếu của cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do là giải thể tình trạng độc tài toàn trị hiện nay, và trao quyền quyết định vận mệnh đất nước cho toàn dân. Chính lá phiếu tự do của toàn dân sẽ nói lên quyết định thể chế mới như thế nào, và guồng máy này sẽ do những thành phần nào được bầu chọn vào vai trò lãnh đạo.

Giải pháp tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do tạo cơ hội cho tất cả mọi công dân Việt Nam trong việc bầu chọn người đại diện cho mình trong guồng máy chánh quyền, và đồng thời cũng tạo cơ hội cho những công dân có tư cách, khả năng và điều kiện được ứng cử trở thành tiếng nói đại diện cho nhân dân. Tiến trình dân chủ hóa ôn hòa này sẽ tạo yếu tố điều chỉnh những vấn nạn của xã hội hiện nay như tình trạng tham nhũng, quan liêu, lạm dụng quyền thế, v.v…

Với giải pháp Tổng Tuyển Cử Tự Do và thể chế dân chủ mới, nhân dân sẽ làm chủ, sẽ góp phần lãnh đạo và quản lý đất nước.

Mặt khác, việc tổ chức Tổng Tuyển Cử Tự Do cũng sẽ không gây trở ngại cho tiến trình phát triển kinh tế và xây dựng đất nước của toàn dân. Cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do sẽ dẫn đến một thể chế dân chủ mới, với một thành phần lãnh đạo và điều hành cơ cấu các cấp của guồng máy quốc gia xuất phát từ nhiều tổ chức chánh trị khác nhau.

Bởi thế, hoàn toàn khác với cơ chế độc đảng hiện nay, nó không đòi hỏi một sự thay đổi toàn bộ guồng máy chánh quyền và cơ cấu sinh hoạt của xã hội, mà chỉ đặt mục tiêu hoàn chỉnh những cơ cấu, bộ phận thiếu chức năng hay đang gây ra những điều không tốt cho xã hội.

Vì mang được tính tiếp nối các công trình phát triển và xây dựng đang có, giải pháp Tổng Tuyển Cử Tự Do không những không làm hư hại nỗ lực của toàn dân trong thời gian qua, mà còn tạo thêm yếu tố thuận lợi cho tiến trình phát triển kinh tế và xây dựng đất nước Việt Nam. Tổng Tuyển Cử là con đường ngắn nhất dẫn đến hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.


Tính Chất của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam

Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam đặt mục tiêu hàng đầu là cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do, bao gồm sự tham dự của các cá nhân và đoàn thể chánh trị ở nội địa Việt Nam, kể cả đảng VNCS.

Giải pháp này dựa trên nền tảng một viễn kiến chánh trị là trong một thời gian ngắn tới, một số biến chuyển sẽ xảy ra và thúc đẩy một cách tích cực hơn khuynh hướng tìm kiếm sự đối thoại, tương nhượng từ các đoàn thể chánh trị ở trong nước, bao gồm đảng cầm quyền. Động lực tương nhượng để cùng sống còn và phát triển sẽ đương nhiên tạo ra những yếu tố mới, có khả năng làm nền tảng cơ bản cho tiến trình dân chủ hóa đất nước một cách tốt đẹp. Trong chiều hướng này, việc thảo luận trước về những giải pháp thích hợp và khả thi là điều vô cùng cần thiết, để chuẩn bị tinh thần và các yếu tố thực hiện tiến trình trong tư thế chủ động.

Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam được đặt căn bản trên hai viễn kiến chánh trị khả dĩ là:

1. Đảng VNCS nhượng bộ: Tình hình Việt Nam sẽ có nhiều biến tố mới có khả năng thúc đẩy Bộ Chính Trị đảng VNCS phải tương nhượng các đoàn thể đối lập và chấp nhận dân chủ hoá xã hội;

2. Đảng VNCS bị mất quyền lãnh đạo: Một biến cố chánh trị sẽ xảy ra và dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống độc tài toàn trị hiện nay, tạo điều kiện cấp thời cho một cuộc Tổng Tuyển Cử Tự Do để thành lập một thể chế dân chủ mới.

Trong cả hai viễn kiến này, ba yếu tố quan trọng không thể thiếu được là sự ôn hoà, hợp lý và hợp hiến; để làm điều kiện bảo đảm cho khả năng vận động sự tham dự các thành phần liên hệ ở trong nước, và ở phía quốc tế.

Ôn hoà, có nghĩa là giải pháp dân chủ hóa này không chủ trương dùng bạo lực như là một phương tiện thay đổi thành phần lãnh đạo hay cơ cấu chánh quyền.

Hợp lý, có nghĩa là giải pháp này nhằm dân chủ hóa xã hội dựa trên căn bản tạo cơ hội đồng đều cho tất cả lực lượng chánh trị và dành quyền quyết định tối hậu cho toàn dân.

Hợp hiến, có nghĩa là Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam chủ trương đặt Hội Đồng Lập Hiến sắp tới vào vai trò chánh yếu trong tiến trình thay đổi cơ chế lãnh đạo quốc gia.

Tính chất ôn hoà, hợp lý và hợp hiến của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam này là điều kiện tiên quyết cần có, để bảo đảm sự an toàn cho các thành phần đối lập sẽ tham dự cuộc vận động ở trong nước. Mặt khác, tính chất này giúp giải tỏa sự lo ngại cố hữu về viễn ảnh của một biến động chánh trị có thể dẫn đến khủng hoảng an ninh quốc gia của những người đang cầm quyền hiện nay. Tính chất ôn hoà, hợp lý và hợp hiến còn giúp cho công luận thế giới và chánh quyền các nước tự do có thể lên tiếng hậu thuẫn công khai mà không ngại bị vi phạm công pháp quốc tế trong lãnh vực ngoại giao với nhà cầm quyền đương thời.

Trong hoàn cảnh chánh trị tế nhị hiện nay, thực tế thấy rằng không có một giải pháp nào có thể được chấp nhận một cách tương đối nếu nó không bao gồm sự đại diện các thành phần có quan hệ mật thiết đến quá khứ, hiện tại và tương lai của Việt Nam, như:

Đại diện các tôn giáo ở trong nước (như Phật Giáo, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, v.v..);

Đại diện đảng Cộng sản Việt Nam;

Đại diện các thành phần đối lập chánh trị ở Việt Nam;

Đại diện các đoàn thể quần chúng (độc lập) từ Bắc chí Nam;

Đại diện Cộng đồng Người Việt lưu vong ở nước ngoài;

Đại diện các tổ chức phi chính phủ quốc tế và Việt Nam chuyên ngành về nhân quyền; và

Đại diện các cơ quan truyền thông và báo chí quốc tế, và Việt Nam ở cả trong cũng như ngoài nước.

Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam dự trù giải pháp cho cả hai trường hợp có thể xảy ra là:

1. đảng VNCS chấp nhận tương nhượng, và

2. chế độ độc tài toàn trị của đảng VNCS bị sụp đổ.

Giải pháp cho viễn kiến của trường hợp #1 được gọi là “Giải Pháp #1 của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam”, gọi tắt là Giải Pháp #1.(http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/ai-cuong-ve-giai-phap-1.html)

Giải pháp cho viễn kiến của trường hợp #2 được gọi là “Giải Pháp #2 của Lộ Trình Dân Chủ Hóa Việt Nam”, gọi tắt là Giải Pháp #2.(http://hoabinhvanhandao.blogspot.com/2013/04/ai-cuong-ve-giai-phap-2.html)

Nhận thức và Tâm Thức

Thành khấn anh linh tiền nhân, các anh hùng vị quốc vong thân, các chiến sĩ, nghĩa sĩ đã hy sinh cho sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ tự do cho Việt Nam trong suốt quá trình lịch sử. Thành khấn vong linh các đồng bào đã oan tử trên đường từ Bắc vượt thoát vào Nam, hay từ Việt Nam vượt biên sang xứ người tìm tự do.

Nguyện cầu hương linh các bậc tiền nhân phò trợ cho dân tộc chúng ta sớm vượt qua khỏi cảnh nhiễu nhương, đau khổ hiện nay, và đất nước Việt Nam sớm trở thành một quốc gia thực sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Niềm Tự hào về Đất nước và Dân tộc

Việt Nam là một quốc gia có nguồn lịch sử đáng hãnh diện! Luân chuyển qua hàng trăm thế hệ khác nhau, dân tộc Việt đã không ngừng đấu tranh để dựng nước, mở nước và giữ nước. Nhờ truyền thống bất khuất đó, Việt Nam đã tự tạo cho mình một lịch sử hào hùng có thế đứng ngang hàng với những nước lớn trong cộng đồng thế giới.

Việt Nam là một dân tộc có nền văn hóa độc đáo. Nền văn hóa Việt mang sức sống mãnh liệt của một dân tộc có ý chí quật cường, không bao giờ chấp nhận sống dưới ách ngoại xâm hay gông xiềng áp bức. Nền văn hóa Việt Nam không chú trọng đến việc tạo dựng nhiều công trình vật chất vĩ đại mang tính phô trương, khả dĩ có thể làm hao tốn ngân quỹ quốc gia và xương máu nhân dân. Di sản ý nghĩa nhất của nền văn hóa Việt là những bài học lịch sử của tiền nhân, truyền dạy cho con cháu đời sau những cách ứng xử khôn ngoan khi quốc biến. Đó là, biết khi nào phải chiến đấu, biết khi nào phải cầu hòa, để cứu dân, giữ nước. Truyền thống đấu tranh và bản sắc văn hóa này đã giúp gìn giữ sự thống nhất của đất nước và tồn tại của dân tộc Việt qua mấy ngàn năm lịch sử đầy gian truân, thử thách. Truyền thống này đồng thời cũng là niềm hãnh diện lâu đời của người Việt Nam; đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển đất nước ở hiện tại cũng như tương lai. Đảng Vì Dân tin tưởng rằng niềm tự hào về lịch sử và văn hoá của dân tộc là một yếu tính không thể thiếu được trong tiến trình xây dựng một nước Việt Nam Mới.



Nhận Thức Lịch sử

Kể từ ngày dựng nước, lịch sử Việt là một quá trình chống ngoại xâm và mở mang bờ cõi không ngừng nghỉ. Song từ thế kỷ thứ 19, vấn đề của Việt Nam đã không còn đơn thuần chỉ là sự tranh đấu chống xâm lăng hay giải quyết sự va chạm quyền lợi với các nước láng giềng. Sự tranh giành ảnh hưởng giữa hai khối quyền lực Cộng Sản và Tư Bản đã dẫn đến sự can thiệp thô bạo của các siêu cường, khiến vận mệnh Việt Nam bị chi phối một cách sâu xa trong suốt mấy mươi năm qua.

Thực tế là, cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lăng đầy chánh nghĩa kết thúc bởi Hiệp định Geneva 1954 đã không đem đến sự thống nhất cho lãnh thổ hay sự độc lập cho dân tộc Việt. Ngược lại, từ thời điểm đó Việt Nam bị đẩy vào một cuộc chiến tranh uỷ nhiệm kéo dài suốt hai mươi năm sau, gây ra sự tương tàn giữa một số thành phần dân tộc. Cuộc tranh chấp đẫm máu này đã gây nên sự thương vong cho hàng triệu người yêu nước và nhân dân vô tội. Cuộc chiến tranh bom đạn đồng thời đã gây ra cảnh tang thương, hoang tàn, đổ vỡ từ Bắc chí Nam. Hậu quả của cuộc chiến tranh này kéo dài một cách nghiêm trọng đến nhiều thập niên sau, làm ảnh hưởng một cách tệ hại quá trình hàn gắn vết thương chiến tranh và tái thiết đất nước.

Điều đáng tiếc nhất là sau khi cuộc chiến tranh ủy nhiệm đã tàn lụi, chiến trường bom đạn chấm dứt và quê hương không còn bị phân chia, nhân dân Việt Nam vẫn chưa thực sự được sống trong hòa bình, hạnh phúc. Chủ trương phân biệt đối xử và kỳ thị chánh trị khắc nghiệt của Đảng VNCS đã biến hàng chục triệu người thành nạn nhân của chế độ mới. Các chánh sách phi nhân bản này đã biến nhiều người Việt trở thành thủ phạm của những tội ác tày trời với chính người đồng chủng. Hậu quả kinh hoàng đó là sau ngày được gọi là “hòa bình”, số người bị giết, bị chết thảm trên đường vượt biên tìm tự do, và bị giam cầm trong các nhà tù từ Bắc chí Nam, có thể đã tương đương với số nạn nhân chiến tranh trong suốt hai mươi năm trước đó.

Cùng lúc đó, tham vọng áp đặt nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ngay sau khi chiến tranh vừa chấm dứt đã tiêu huỷ sức lực còn lại của toàn dân. Hậu quả nghiêm trọng của tham vọng này đã làm cho Việt Nam trở thành một trong những nước nghèo đói nhất thế giới. Cho đến nay, dù đã phục hồi được khá nhiều, Việt Nam vẫn hiện là một quốc gia chậm tiến so với nhiều nước có cùng tầm cỡ và điều kiện tự nhiên trên thế giới.

Thực tế đó là cho đến nay, hàng chục triệu gia đình vẫn còn sống trong cảnh nghèo đói, lạc hậu không khác gì thời còn chiến tranh ở hơn ba mươi năm về trước. Điểm đáng lo nhất là các thế hệ trẻ sinh trong thời gian gần đây đã không có được môi trường giáo dục và điều kiện dinh dưỡng đầy đủ, cũng như đã không được có điều kiện để bảo vệ sức khoẻ một cách bình thường. Hơn thế nữa, bên cạnh sự thiếu thốn vật chất, hàng ngày người dân Việt Nam còn phải là nạn nhân của không biết bao nhiêu sự phi lý và bất công khác. Điển hình là tình trạng bóc lột sức lao động, hối lộ, tham ô, quan liêu, cửa quyền, v.v… Điểm nhục nhã nhất của giai đoạn này là sự kiện hàng trăm ngàn phụ nữ Việt phải đánh đổi phẩm giá và đạo đức truyền thống để có được điều kiện sống còn trong một xã hội càng ngày càng thêm bất công, tha hoá. Cùng lúc đó, hàng chục ngàn phụ nữ khác phải sống cảnh đoạ đày về thể xác lẫn tinh thần ở xứ người để đổi lấy điều kiện nuôi thân và phương tiện bảo bọc gia đình hết sức là khiêm nhường.Ba mươi năm đã trôi qua kể từ ngày được gọi là “hòa bình”, hậu quả của “cuộc chiến tranh Việt Nam” vẫn còn hoành hành. Những “kẻ thù” cũ của chế độ mới thì ngày nay đã trở thành bạn của Việt Nam, trong khi đó một phần dân tộc thì vẫn bị tiếp tục xem là đối tượng phân biệt đối xử của nhà cầm quyền Hà Nội.

Mấu chốt chánh của toàn bộ vấn đề là guồng máy nhà nước độc tài toàn trị do đảng Cộng sản Việt Nam (VNCS) dựng lên. Vì guồng máy chánh quyền không có những chức năng kiểm soát và chế tài hữu hiệu nên nạn quan liêu, cửa quyền, tham ô và hối lộ nảy sinh, lan tràn các cấp trong cả nước. Vì quốc gia không có một hệ thống sinh hoạt đối lập nên những hiện tượng tiêu cực này không có cơ may được báo động với công luận để được ngăn chận kịp thời từ lúc đầu. Từ đó, những sự đổi mới và phát triển kinh tế trong hơn mười năm qua chỉ tạo nên cơ hội làm giàu bất chánh cho các bè phái lãnh đạo, tầng lớp cán bộ, viên chức nhà nước và một số nhỏ thuộc thành phần cơ hội, hay may mắn có ưu thế trong xã hội.

Hậu quả của sự lãnh đạo độc tài và guồng máy chánh quyền đầy dẫy tệ trạng quan liêu, tham nhũng đã ảnh hưởng một cách nghiêm trọng đến toàn bộ sinh hoạt xã hội. Sự kiện nổi bật nhất là sự cách biệt càng ngày càng lớn giữa một thiểu số được hưởng đặc quyền, đặc lợi, và đại bộ phận nhân dân nghèo khổ. Tình trạng các thành phần nắm chánh quyền được dung túng ăn cắp của công, bóc lột sức lao động của người nghèo, và hà hiếp một cách thô bạo những người cô thế, là nguyên nhân và động lực lớn nhất sẽ dẫn đến sự khủng hoảng lãnh đạo một cách nghiêm trọng trong guồng máy đảng và nhà nước VNCS.

Nhưng sự bất công về mặt vật chất đó cũng chưa quan trọng bằng những sự đàn áp, chèn ép về mặt tinh thần. Vì sự tham lam nắm giữ quyền lực, thành phần bảo thủ, cực đoan trong Bộ Chính Trị Đảng VNCS đã thẳng tay trù dập các thành phần đối lập ôn hòa, không võ trang và cũng không có khuynh hướng bạo động. Trong số những người bị nhà cầm quyền trù dập còn có cả những người đã từng có công xây dựng đảng và đóng góp vào việc đưa toàn cõi Việt Nam vào quỹ đạo Cộng sản. Thành phần này cũng là những người đã dầy công góp sức xây dựng chế độ VNCS trong nhiều năm đầu sau 1975; và nay thì phần lớn chỉ đòi hỏi đảng sửa đổi một số điểm sai lầm trong chánh sách đối nội.Song song với sự độc tài lãnh đạo, đảng VNCS còn chủ trương kiểm soát một cách gắt gao các lãnh vực sinh hoạt tín ngưỡng thiêng liêng. Sự kiện cụ thể của chánh sách này là tình trạng áp bức thô bạo những nhà lãnh đạo tôn giáo vốn chỉ yêu cầu nhà nước tôn trọng quyền tự do tín nguỡng của các tín đồ, và cứu xét việc phục hồi quyền tự do hành đạo của thành phần tu sĩ.

Sự kềm kẹp các quyền tự do căn bản của con người, đặc biệt là các quyền tự do báo chí, tôn giáo, ngôn luận, lập hội… đã phản ảnh rõ rệt tình trạng vi phạm nhân quyền một cách thô bạo của nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) do Đảng VNCS độc quyền lãnh đạo.

Tai hại hơn cả cho Tổ Quốc Việt Nam là việc nhà nước CHXHCNVN đã chánh thức ký kết “Hiệp ước về Biên Giới Đường Bộ” vào ngày 30/12/1999 và “Hiệp Ước Phân Định Vịnh Bắc Bộ” vào ngày 25/12/2000 để sang nhượng lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam cho Trung Cộng. Đây là một sự vi phạm trắng trợn Điều 1 và 13 của bản Hiến Pháp hiện hành, chứng tỏ một sự lãnh đạo độc tài, đặt quyền lợi riêng tư của đảng lên trên quyền lợi tối thượng của Tổ Quốc. Sự kiện vi hiến này cho thấy rằng, ngày nào chế độ độc tài toàn trị còn nắm quyền lãnh đạo, thì quyền lợi của đảng VNCS vẫn được họ đặt trên quyền lợi của quốc gia. Và do đó, nếu đảng VNCS còn độc quyền lãnh đạo thì vận mệnh của nước nhà vẫn còn có nhiều nguy cơ nghiêm trọng. Với tình trạng này, vấn đề đòi lại phần lãnh thổ và lãnh hải đã bị chuyển nhượng cho Trung Cộng chỉ có thể thực hiện được khi Việt Nam đã thực sự có một thể chế dân chủ mới.Trách nhiệm càng lớn, sai lầm càng nhiều. Quyền hành càng cao, tham ô càng sâu. Đảng VNCS nay đã hoàn toàn mất hết lý tưởng, kể cả “lý tưởng Cộng sản”, “lý tưởng giải phóng” và “lý tưởng xã hội chủ nghĩa” như đã từng được họ tuyên dương, hãnh diện. Vì vậy, càng ngày càng có nhiều người yêu nước liêm chính trong Đảng bày tỏ thái độ bất mãn với thành phần lãnh đạo độc tài, cực đoan, bất công, tham lam và ích kỷ. Tóm lại, guồng máy độc tài toàn trị hiện nay là nguyên nhân của những khủng hoảng nghiêm trọng của xã hội, có khả năng đe dọa sự sinh tồn và hướng thăng tiến của quốc gia, dân tộc.


Nhận thức về Nhu Cầu Cách Mạng Xã Hội

Hơn bao giờ hết, Việt Nam đang cần được giải phóng khỏi sự độc tài, bất công và lạc hậu hiện nay.

Đối với những người có lý tuởng trong hàng ngũ Cộng sản, mục tiêu tranh đấu mấy chục năm qua vẫn còn đó một cách nguyên vẹn. Ngày trước, mục tiêu đánh đổ là chế độ Đệ I và Đệ II Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nay, là chế độ độc tài toàn trị đang trở thành một nguy cơ lớn cho quốc gia, dân tộc.

Điều khác biệt là, qua kinh nghiệm lịch sử đắng cay trong suốt mấy mươi năm qua, tiến trình giải thể chế độ đảng trị độc tài và tham ô nhũng lạm hiện nay không thể thực hiện bằng cách mạng bạo lực được nữa. Nó đòi hỏi những người muốn dấn thân vào công cuộc cách mạng xã hội bây giờ phải có được sự sáng suốt, bình tĩnh, kiên trì và một lòng can đảm vô biên. Bởi lẽ, trong cuộc đấu tranh này, bom đạn, dao găm sẽ phải được thay thế bằng lý trí, tình thương và kiến thức. Bởi lẽ, đây là một cuộc đấu tranh ôn hòa và nhân bản -- một cuộc đấu tranh quyết liệt với thành phần độc tài, tham ô nhưng nhất quyết sẽ không để cho một thành phần dân tộc nào phải trở thành nạn nhân của chế độ mới.Việt Nam cần có một giải pháp chánh trị có khả năng hóa giải một cách rốt ráo các bế tắc hiện nay của Việt Nam, mà vẫn có thể bảo vệ được tài sản của quốc gia và nhân dân. Giải pháp này giành lại quyền làm chủ đất nước thật sự cho toàn dân, xây dựng được một chánh quyền dân cử đúng nghĩa “do dân, từ dân và vì dân”, chớ không phải là để trả thù báo oán hay chỉ để tranh giành quyền lực.

Việt Nam cần có một guồng máy chánh quyền mới, trong sạch và hữu hiệu. Thành phần lãnh đạo các cấp của nước Việt Nam trong thời gian tới phải có khả năng, đạo đức; biết lắng nghe nguyện vọng chung của đại đa số nhân dân, có thiện chí thực thi vai trò đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của nhân dân.

Việt Nam cần có một mô thức tổ chức xã hội mới để vượt thoát khỏi những khủng hoảng, trì trệ hiện nay, nhằm đưa đất nước vào một môi trường phát triển thích nghi, lành mạnh và tốt đẹp thật sự.

Việt Nam đang cần có một cuộc cách mạng xã hội có khả năng hóa giải tận gốc rễ các vấn đề của đất nước và dân tộc Việt Nam. Cuộc cách mạng xã hội đó phải vượt lên trên những ranh giới tầm thường của chánh trị, tôn giáo và kinh tế. Nó phải có mục tiêu phụng sự xã hội trong tinh thần dân tộc tự quyết, để các thế hệ trẻ có tinh thần tiên phong trong lý tưởng phụng sự quốc gia, dân tộc có thể đóng góp công sức và tài năng của mình để xây dựng một xã hội mới, một đất nước mới.Cuộc cách mạng xã hội để xây dựng một tâm thức mới, một xã hội mới và một nước Việt Nam Mới phải xuất phát từ nguyện vọng chung của đại đa số nhân dân, để có thể dung chứa cả một dân tộc, không phân biệt Bắc-Trung-Nam, xuất xứ, tôn giáo hay thành phần xã hội.

Nhu cầu này là nền móng của một cuộc cách mạng xã hội nhằm kiến tạo một đất nước thật sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Việt Nam cần có một lý tưởng mới để phục hưng dân tộc và phát triển quốc gia. Đó là Lý Tưởng Việt Nam Mới.

Tuổi trẻ Việt Nam sẽ là rường cột của cuộc cách mạng xã hội để thực hiện Lý Tưởng Việt Nam Mới, nhằm phục hồi bản sắc và niềm tin của Dân tộc Việt Nam. Mục tiêu của lý tưởng này là trong vòng một thập niên kể từ ngày thể chế dân chủ được thực sự thành hình, đất nước Việt Nam phải phát triển thành một quốc gia xứng đáng để mọi người dân Việt Nam có thể tự hào, hãnh diện.

Trước mắt, tuổi trẻ Việt Nam tranh đấu là để phục hồi thể diện quốc gia và thoả mãn tự ái dân tộc.

Nước Việt Nam ta không tồi đến nỗi phải đi ăn xin sự thương hại của nước ngoài, hay phải bị thế giới chèn ép trong các sinh hoạt kinh tế liên lập. Nếu nước Việt Nam có một thành phần lãnh đạo thật sự có khả năng, đạo đức và biết thương dân, thương nước, dân nước ta không phải cúi đầu chịu đựng bao cảnh nhục nhằn khi đi làm công rẻ tiền cho hãng xưởng nước ngoài.

Dân tộc ta không hèn đến nỗi nam nhân phải bán sức lao động rẻ hời để sống còn, và phụ nữ đã không phải đánh đổi phẩm hạnh để mưu sinh.

Tuổi trẻ Việt Nam cần đứng lên để giành lại đất nước từ tay đảng VNCS, và từ tay những ngoại kiều đang bóc lột mồ hôi, sức lao động của dân nghèo. Chúng ta phải đấu tranh để giành quyền làm chủ đất nước, làm chủ xã hội theo nguyên tắc sinh hoạt của thể chế dân chủ.Không ai có quyền tiếm danh nhân dân Việt Nam để sống trong giàu sang, phú quý trong khi hàng triệu người dân nghèo không có cơm ăn, áo mặc.

Chúng ta cần dấn thân để cùng nhau góp phần xây dựng một xã hội mới, một đất nước mới, và một tương lai mới.

Chúng ta phải xây dựng lại đất nước để mọi người Việt Nam, dù ở đâu và thuộc thành phần xã hội, kinh tế nào, cũng đều có thể ngẩng cao đầu hãnh diện mình là công dân của nước Việt Nam.

Tất cả ước mơ đó không quá lớn để trở thành những ước mơ không tưởng. Nó ở trong tầm tay những người trẻ có nhiệt huyết và lòng yêu thương đồng bào, tổ quốc.Việt Nam cần có một lý tưởng mới để phục hưng dân tộc và phát triển quốc gia. Đó là Lý Tưởng Việt Nam Mới — lý tưởng của tuổi trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau.

Vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chấm dứt, cũng như chủ thuyết Cộng Sản đã tàn lụi dần trong lịch sử và tư tưởng nhân loại.

Đã đến lúc để những người tiến bộ trong Bộ Chính Trị Đảng VNCS cần ý thức được rằng, họ có trách nhiệm hàng đầu trong việc tháo gỡ những bế tắc chánh trị hiện nay, khởi đầu từ việc mạnh dạn cải tạo guồng máy lãnh đạo và chủ trương của đảng.

Nếu những người lãnh đạo đảng VNCS nhận thức được rằng trước hay sau gì xã hội Việt Nam cũng sẽ trở thành tự do, thì ngay từ bây giờ hãy mạnh dạn bày tỏ thiện chí với nhân dân và hợp tác tích cực với các thành phần đối lập ôn hòa để cùng thúc đẩy nhanh chóng tiến trình dân chủ hóa đất nước. Thiện chí không thể thiếu được ở Bộ Chính Trị đảng VNCS là họ phải tạo mọi điều kiện thuận lợi để công khai thảo luận, ghi nhận và đáp ứng các ý kiến đóng góp đúng đắn của những người tiến bộ trong nội bộ đảng. Bước kế tiếp là chấm dứt thái độ đố kỵ, thù nghịch với các thành phần đối lập ôn hòa ở trong nước; đồng thời tạo ra cơ hội thảo luận một cách trực tiếp và công khai tiến trình dân chủ hóa và phát triển Việt Nam với các cá nhân, đoàn thể có chủ trương đấu tranh ôn hoà.

Cùng lúc này, Bộ Chính Trị đảng VNCS cần chứng tỏ thái độ cởi mở thật sự bằng cách chấm dứt tức thời các hành động đàn áp đối lập và trù dập những người dân cô thế. Mặt khác, đảng VNCS còn phải phục hồi ngay các quyền tự do căn bản của con người như tinh thần Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền đã qui định; kể cả các quyền tự do tín ngưỡng, tự do sinh hoạt tôn giáo, tự do lập hội, tự do báo chí, tự do ngôn luận, v.v...

Chỉ với thiện chí đó, đảng VNCS mới có thể được xã hội chấp nhận tiếp tục sinh hoạt như là một chính đảng sau này. Vận mệnh đảng VNCS trong tương lai tùy thuộc vào thái độ và chủ trương của thành phần lãnh đạo đảng hiện nay.

Đã đến lúc những thành phần tiến bộ trong Đảng VNCS cần phải đồng loạt lên tiếng yêu cầu Bộ Chính Trị phải thay đổi chủ trương một cách nhanh chóng, cụ thể và rốt ráo. Nếu như Bộ Chính Trị vẫn khư khư chủ trương lãnh đạo độc quyền và dung túng tham ô, nhũng lạm, thì những người đảng viên có liêm sĩ cần phải mạnh dạn từ bỏ đảng. Vận mệnh đất nước không thể tiếp tục bị khoán trắng cho một thiểu số không thuộc thành phần dân cử. Bộ Chính Trị đảng VNCS đã phạm phải nhiều sai lầm nghiêm trọng trong lịch sử, và đang tiếp tục sai lầm trong chủ trương độc tài lãnh đạo. Những sự sai lầm đó đã gây ra lắm đau thương, đổ vỡ cho dân tộc trong suốt bao nhiêu năm qua, và gây nhiều cản trở cho công cuộc tái thiết và phát triển đất nước hiện nay.

Nếu như Bộ Chính Trị đảng VNCS khư khư bảo thủ thì những người tiến bộ cần phải mạnh dạn dứt khoát bỏ đảng để tự thành lập một đảng mới quy tụ những người tiến bộ trong đảng, hay tham gia các chính đảng dân chủ khác, hay kết hợp những người có cùng xuất xứ và quan điểm để thành lập một đảng chánh trị mới.

Quyết tâm của thành phần tiến bộ trong đảng sẽ buộc thiểu số cực đoan trong Bộ Chính Trị đảng VNCS phải nhượng bộ và chấp nhận tìm kiếm các giải pháp chánh trị ôn hoà, thích hợp và khả thi, hầu có thể giải quyết nhanh chóng các bế tắc tồn đọng của đất nước, xã hội và dân tộc. Sự thay đổi này không những tạo điều kiện thuận lợi để chấm dứt các oan trái do hoàn cảnh lịch sử trước đây gây ra, mà còn giúp cho những người yêu nước chân chính có được cơ hội tiếp tục phục vụ cho quốc gia, dân tộc trong thể chế dân chủ mới.
Tâm Thức Xây dựng một nước Việt Nam Mới

Dưới thể chế dân chủ trong tương lai, mọi thành phần dân tộc đều có quyền và có trách nhiệm đóng góp vào sự nghiệp xây dựng một nước Việt Nam Mới thật sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Chúng ta không chủ trương gây chiến hay khích động chia rẽ, hận thù nhưng nhất quyết không nhượng bộ với các thành phần bảo thủ, cực đoan, thối nát và tàn ác. Chúng ta khẩn thiết mời gọi sự đồng tình, hậu thuẫn của những người bất mãn với sự lãnh đạo của đảng VNCS mà mong muốn góp phần xây dựng một nước Việt Nam Mới thật sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ.

Cục diện Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào, từ đâu và do ai chủ động, câu trả lời không thể tiếp tục là sự chờ đợi từ thái độ của các siêu cường, hay sự cởi mở vô chừng của đảng VNCS. Năm mươi năm chịu đựng đã đủ cho nhân dân miền Bắc, và ba mươi năm nhục nhằn đã đủ cho nhân dân miền Nam. Đất nước phải thực sự là của nhân dân. Nhiệm vụ của quân đội, chánh quyền và công an phải là phục vụ quốc gia, chứ không thể là công cụ của đảng VNCS hay bất kỳ đảng phái nào cả.

Đã đến lúc để người Việt Nam đứng lên giành lại quyền làm chủ xã hội và đất nước. Hành động này còn là một thái độ nhằm bảo vệ chủ quyền Việt Nam từ sự chi phối và khuynh loát của các thế lực ngoại bang.

Từ nhận thức nêu trên, với tinh thần chia sẻ trách nhiệm chung, trân trọng trình bày cùng đồng bào trong và ngoài nước một số quan điểm và đề án cho công cuộc dân chủ hóa và tái thiết đất nước với tất cả niềm tin và hy vọng. Công trình tư tưởng này được gọi là Đề Cương Việt Nam Mới. Đây là lập trường, quan điểm và ý kiến của tập hợp anh chị em . Ước nguyện của chúng tôi là được góp phần xây dựng một xã hội Việt Nam Mới thực sự có hòa bình, tự do, ấm no và tiến bộ. Tin tưởng rằng, với sự chân thành, quyết tâm và trong sáng, nước Việt Nam Mới sẽ sớm được thành hình. Trong xã hội mới đó, cơm no áo ấm được bảo đảm, công bằng xã hội được nêu cao, và nhân phẩm con người được tôn trọng.